Chinh ChiếnWiki
Tìm
Thơ văn chinh chiến

Lương Châu từ của Vương Hàn: say nằm sa trường và câu mấy ai về

Lương Châu từ của Vương Hàn là tứ tuyệt đời Đường kể chén rượu nho trước giờ ra trận; câu kết cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi vừa hào sảng vừa bi thương.

Lương Châu từ của Vương Hàn: say nằm sa trường và câu mấy ai về

Lương Châu từ của Vương Hàn là bài thất ngôn tứ tuyệt đời Đường, chỉ 28 chữ, kể cảnh người lính nâng chén rượu nho trước giờ ra trận và buông câu "say nằm sa trường anh chớ cười, xưa nay chinh chiến mấy ai về". Bài thơ nổi tiếng vì nó vừa hào sảng vừa bi thương, và người đọc hơn mười hai thế kỷ nay vẫn chưa thống nhất nên đọc nó theo giọng nào.

Nguyên văn, phiên âm và dịch nghĩa

葡萄美酒夜光杯,欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,古來征戰幾人回。

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Dịch nghĩa từng câu:

  1. Rượu nho ngon đựng trong chén dạ quang.
  2. Vừa muốn uống thì tiếng tỳ bà trên lưng ngựa đã giục.
  3. Say nằm trên bãi cát chiến trường, anh đừng cười.
  4. Từ xưa tới nay, đi chinh chiến được mấy người trở về.

Bài thơ có nhiều bản dịch tiếng Việt. Người mới đọc nên xem ít nhất hai bản để thấy mỗi dịch giả nghiêng về giọng hào hùng hay giọng bi thương thế nào.

Vương Hàn là ai

Vương Hàn người Tấn Dương, vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay, sống khoảng cuối thế kỷ 7 đến đầu thế kỷ 8, tức thời Thịnh Đường. Ông đỗ tiến sĩ đầu niên hiệu Cảnh Vân của Đường Duệ Tông. Sách Cựu Đường thư xếp ông vào phần Văn uyển, tả ông là người tính tình phóng khoáng, nhà giàu, thích nuôi ngựa tốt, mở tiệc rượu, tự ví mình với bậc vương hầu. Chính tính khí ấy khiến ông nhiều lần bị giáng chức ra địa phương và mất ở nơi bị biếm.

Thơ Vương Hàn còn lại không nhiều. Gần như toàn bộ danh tiếng của ông dựa vào bài tứ tuyệt này. Đây là chuyện hay gặp với thơ Đường: một bài đủ để một người ở lại mãi.

Lương Châu là đâu, "từ" là gì

Lương Châu đời Đường tương ứng vùng Vũ Uy, tỉnh Cam Túc ngày nay, nằm trên Hành lang Hà Tây, cửa ngõ đi về Tây Vực. Đây là đất biên ải, nơi quân Đường đồn trú để giữ đường tơ lụa và chống các thế lực du mục phía bắc, phía tây.

"Lương Châu từ" không phải tên Vương Hàn tự đặt mà là tên một điệu nhạc. Thời Khai Nguyên, các khúc nhạc vùng Tây Lương được dâng lên triều đình, rất thịnh hành ở Trường An. Nhà thơ đặt lời mới cho điệu cũ, gọi là "từ" hoặc "khúc". Vì vậy cùng tên Lương Châu từ còn có bài nổi tiếng của Vương Chi Hoán, mở đầu bằng cảnh "Hoàng Hà viễn thượng bạch vân gian" (sông Hoàng Hà xa tít lên tận giữa mây trắng). Hai bài trùng tên nhưng khác người, khác giọng.

Từng hình ảnh trong bài

Rượu nho: hương vị Tây Vực

Nho và rượu nho không phải thứ quen thuộc ở Trung Nguyên thời trước. Sử ký của Tư Mã Thiên, phần Đại Uyển liệt truyện, đã ghi người nước Đại Uyển ở Trung Á làm rượu bằng nho. Sang đời Đường, sau khi nhà Đường chiếm Cao Xương (Turfan) năm 640, sách cổ chép rằng cách ủ rượu nho được đưa về kinh đô. Nhắc tới rượu nho tức là đặt người đọc ngay giữa vùng biên tái phía tây, nơi văn hóa Hán và văn hóa Tây Vực giao nhau.

Chén dạ quang

"Dạ quang bôi" nghĩa đen là chén sáng trong đêm. Sách truyền kỳ cổ có nói tới loại chén quý như vậy, do các nước phương tây dâng tặng. Ngày nay ở Tửu Tuyền, Cam Túc, người ta làm chén bằng ngọc mỏng và gọi là chén dạ quang để bán cho du khách, nhưng nên hiểu trong bài thơ đó là hình ảnh văn chương: một chiếc chén quý, lấp lánh, xứng với rượu ngon.

Tỳ bà trên lưng ngựa

Câu thứ hai là chỗ tranh cãi nhiều nhất. Tỳ bà là nhạc cụ từ phương tây truyền vào. "Mã thượng thôi" có thể hiểu là tiếng tỳ bà trên ngựa giục lên đường, tức lệnh xuất quân đã tới, rượu chưa kịp uống. Cũng có người hiểu tỳ bà được gảy trên lưng ngựa để thúc rượu, cổ vũ cuộc vui. Cách hiểu thứ nhất làm bài thơ căng thẳng; cách thứ hai làm bài thơ phóng túng. Cả hai đều có người theo.

Hai câu cuối

"Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu" là lời nói với một người ngồi cùng, hay với chính người đọc. Say gục giữa sa trường mà bảo đừng cười, vì "cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Câu kết không hỏi mà như khẳng định: ai cũng biết rất ít người trở về.

Hào sảng hay bi thương: hai cách đọc

Cách đọcHiểu câu "tỳ bà mã thượng thôi"Hiểu câu kếtGiọng chung
Hào sảngNhạc thúc rượu, cuộc vui trước trậnĐằng nào cũng có thể chết, hãy uống cho sayNgạo nghễ, coi nhẹ sống chết
Bi thươngLệnh xuất quân cắt ngang chén rượuLời than về số phận người línhNgậm ngùi, chua chát
Kết hợpCả hai nghĩa cùng tồn tạiCười để khỏi khócBi tráng

Các nhà bình thơ đời Minh, đời Thanh đã bàn nhiều về bài này. Có người thời Minh như Vương Thế Trinh từng nêu nó trong số những bài đáng được coi là hay nhất của thể tuyệt cú đời Đường. Nhiều nhà phê bình về sau nghiêng về chữ "bi tráng": cái hào khí ở bề mặt chỉ làm nỗi buồn bên dưới sâu thêm. Một người lính biết mình có thể không về, vẫn nâng chén, vẫn đùa. Chính sự bình thản ấy mới làm người đọc thắt lòng.

Lương Châu từ trong dòng thơ biên tái

Bài thơ thuộc dòng thơ biên tái, tức thơ viết về vùng biên giới và đời lính, rất thịnh thời Thịnh Đường. Nếu Vương Xương Linh thiên về khí phách giữ nước, Sầm Tham thiên về cảnh lạ vùng tây bắc, Cao Thích thiên về phê phán bất công trong quân, thì Vương Hàn chọn một khoảnh khắc riêng tư: phút giây ngồi uống rượu trước khi lên ngựa.

Điểm đặc biệt là bài thơ không có kẻ thù, không có trận đánh, không có tướng soái. Chỉ có rượu, chén, đàn, cát và một câu nói. Thơ Đường hay nhất thường như vậy: chọn một lát cắt nhỏ, để người đọc tự dựng phần còn lại.

Ở Việt Nam, câu "cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" trở thành câu cửa miệng của người có học, được dẫn trong thư từ, văn chương mỗi khi nói chuyện người ra trận. Người đọc Chinh phụ ngâm cũng sẽ thấy cùng một không khí: chén rượu tiễn, tiếng nhạc giục, và nỗi lo người đi không về.

Đọc bài thơ hôm nay

  • Học thuộc nguyên phiên âm. 28 chữ, học trong năm phút. Vần "bôi – thôi – hồi" ở cuối câu 1, 2, 4 đọc lên rất vang, đúng luật tứ tuyệt.
  • So ba bản dịch. Đọc một bản dịch thiên hào hùng, một bản thiên ngậm ngùi, rồi tự quyết mình đọc theo giọng nào. Đây là bài tập hay để hiểu dịch thơ khó ra sao.
  • Đặt lên bản đồ. Tra vị trí Vũ Uy, Tửu Tuyền, Đôn Hoàng, Ngọc Môn quan trên Hành lang Hà Tây để thấy người lính Đường đứng ở đâu, xa Trường An bao nhiêu.
  • Đọc tiếp bài cùng tên của Vương Chi Hoán để thấy cùng một điệu nhạc có thể mang hai tâm trạng khác nhau.

Ai có dịp đến Vũ Uy sẽ gặp nhiều chỗ khắc bài thơ này, và di tích nổi tiếng của vùng là tượng ngựa đồng phi trên chim yến khai quật từ một ngôi mộ thời Đông Hán, nay là biểu tượng du lịch của Trung Quốc. Nhưng muốn cảm bài thơ thì không cần đi xa: chỉ cần hình dung một người lính trẻ, một chén rượu, và tiếng đàn giục ngoài trại.

Câu hỏi thường gặp

Lương Châu từ là của ai?

Bài Lương Châu từ mở đầu bằng "Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi" là của Vương Hàn, nhà thơ Thịnh Đường người Tấn Dương. Cần phân biệt với bài Lương Châu từ của Vương Chi Hoán, mở đầu bằng "Hoàng Hà viễn thượng bạch vân gian", cùng tên điệu nhưng khác tác giả.

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi nghĩa là gì?

Câu này nghĩa là "từ xưa tới nay, đi chinh chiến được mấy người trở về". Đây là câu kết của bài Lương Châu từ, thường được dẫn để nói về sự mong manh của người ra trận.

Lương Châu ngày nay ở đâu?

Lương Châu đời Đường tương ứng vùng Vũ Uy thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Vùng này nằm trên Hành lang Hà Tây, tuyến đường nối Trung Nguyên với Tây Vực trên con đường tơ lụa.

Chén dạ quang là gì?

Dạ quang bôi là chén quý được tả là sáng lên trong đêm, xuất hiện trong sách truyền kỳ cổ. Trong bài thơ, đó là hình ảnh văn chương chỉ chén rượu sang trọng, đi kèm rượu nho của vùng Tây Vực.

Bài Lương Châu từ mang giọng vui hay buồn?

Người đọc chia làm hai hướng: hào sảng coi nhẹ sống chết, hoặc bi thương than số phận người lính. Nhiều nhà phê bình gọi đó là giọng bi tráng, tức vẻ ngạo nghễ bên ngoài làm nỗi buồn bên trong sâu thêm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183