Đặng Trần Côn là người viết nguyên tác Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán vào khoảng giữa thế kỷ 18. Còn bản diễn Nôm 408 câu mà người Việt thuộc lòng thì đến nay vẫn chưa ngã ngũ là của ai: truyền thống ghi Đoàn Thị Điểm, còn nhiều nhà nghiên cứu, đứng đầu là Hoàng Xuân Hãn, cho là của Phan Huy Ích. Hiểu chuyện ai viết, ai dịch, dịch thế nào là cách tốt nhất để thấy vì sao một bản dịch có thể được yêu hơn cả nguyên tác.
Đặng Trần Côn là ai
Tư liệu về đời Đặng Trần Côn khá ít và không thống nhất, nên những gì chắc chắn chỉ có mấy nét chính. Ông quê làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì (tên gọi cũ), nay thuộc nội thành Hà Nội. Ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 18, năm sinh năm mất các sách ghi khác nhau, phần nhiều đặt khoảng từ đầu thế kỷ đến giữa những năm 1740.
Ông đỗ Hương cống, tức đỗ kỳ thi Hương, làm quan ở các chức nhỏ như huấn đạo, tri huyện, về sau giữ một chức trong Ngự sử đài. Ông không đỗ đại khoa, không làm quan to. Tên tuổi ông còn lại gần như hoàn toàn nhờ một tác phẩm.
Dân gian truyền nhiều giai thoại về sự ham học của ông, chẳng hạn chuyện thời chúa Trịnh có lệnh cấm đốt lửa ban đêm, ông phải đào hố, che kín để đọc sách. Những chuyện này nên xem là giai thoại, không có sử liệu chính thức xác nhận.
Nguyên tác chữ Hán: một bài nhạc phủ dài
Chinh phụ ngâm bản chữ Hán không phải thơ Đường luật. Nó viết theo lối trường đoản cú: câu dài ngắn đan nhau, có câu ba chữ, năm chữ, bảy chữ, có cả câu dùng chữ "hề" như thể phú và Sở từ. Cách viết này gần với nhạc phủ cổ, cho phép giọng kể lúc dồn dập, lúc dằng dặc.
Câu mở đầu nguyên tác chỉ tám chữ:
Thiên địa phong trần, hồng nhan đa truân.
(Trời đất gió bụi, má hồng lắm gian truân.)
Người đương thời đánh giá tác phẩm rất cao. Lý do không khó hiểu: nó dùng đầy đủ kho điển tích biên tái Trung Hoa, nhưng nội dung lại là nỗi lòng của một người phụ nữ Việt giữa thời loạn Đàng Ngoài, thứ mà ai sống thời ấy cũng thấy quanh mình.
Ai dịch Chinh phụ ngâm: Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích
Đây là một trong những vụ tranh luận văn bản nổi tiếng nhất của văn học Việt Nam.
Thuyết Đoàn Thị Điểm
Đoàn Thị Điểm (1705–1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, quê làng Giai Phạm, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Hưng Yên), là nữ sĩ nổi tiếng, tác giả tập truyện chữ Hán Truyền kỳ tân phả. Nhiều bản Nôm lưu hành ghi tên bà là người diễn Nôm, và giới văn học trong thế kỷ 19 lẫn đầu thế kỷ 20 phần lớn tin theo. Có một cách giải thích quen thuộc: chồng bà là Nguyễn Kiều đi sứ sang Trung Hoa mấy năm, cảnh vợ xa chồng khiến bà đồng cảm với người chinh phụ. Cách giải thích này dễ nghe nhưng không phải là bằng chứng.
Thuyết Phan Huy Ích
Phan Huy Ích (1751–1822), đỗ tiến sĩ, làm quan thời Lê – Trịnh rồi phục vụ nhà Tây Sơn, gốc Hà Tĩnh, sau định cư ở Sài Sơn (nay thuộc Hà Nội). Trong tập thơ văn của ông có ghi chép cho thấy ông từng diễn âm Chinh phụ ngâm. Dựa vào đó và đối chiếu các bản Nôm, Hoàng Xuân Hãn trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo (1953) lập luận rằng bản 408 câu nổi tiếng là của Phan Huy Ích.
Hiện nay nói thế nào cho đúng
Cả hai bên đều có lý lẽ, chưa bên nào đưa ra được chứng cứ dứt khoát. Cách nói thận trọng là: bản diễn Nôm tương truyền của Đoàn Thị Điểm, có ý kiến cho là của Phan Huy Ích. Sách giáo khoa và nhiều tuyển tập hiện nay cũng ghi theo hướng này. Ngoài bản song thất lục bát quen thuộc, giới nghiên cứu còn biết thêm một số bản diễn Nôm khác, kể cả bản viết bằng thể lục bát, nhưng không bản nào sống được trong lòng người đọc như bản 408 câu.
| Đặng Trần Côn | Đoàn Thị Điểm | Phan Huy Ích | |
|---|---|---|---|
| Vai trò | Tác giả nguyên tác | Dịch giả theo truyền thống | Dịch giả theo nhiều nhà khảo cứu |
| Thời gian sống | Nửa đầu thế kỷ 18 | 1705–1748 | 1751–1822 |
| Ngôn ngữ | Chữ Hán | Chữ Nôm, chữ Hán | Chữ Nôm, chữ Hán |
| Căn cứ chính | Thống nhất, không tranh cãi | Ghi chép trên các bản Nôm lưu hành | Ghi chép trong thơ văn của chính ông |
Dịch hay hơn nguyên tác: vì sao người ta nói vậy
Nhận xét "bản dịch hay ngang hoặc hơn nguyên tác" xuất hiện nhiều trong giới nghiên cứu. Không phải vì nguyên tác dở, mà vì dịch giả làm một việc khó hơn dịch: chuyển một bài nhạc phủ chữ Hán sang một thể thơ thuần Việt, rồi làm cho nó hát lên được bằng tiếng mẹ đẻ.
Đổi thể thơ: từ trường đoản cú sang song thất lục bát
Song thất lục bát gồm cặp câu bảy chữ, tiếp theo là câu sáu và câu tám, vần đan cả ở lưng câu lẫn cuối câu. Thể này có nhịp lên xuống như tiếng thở dài, rất hợp với lời than. Câu mở đầu tám chữ Hán thành hai câu bảy chữ:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Bản dịch dài gần gấp đôi nguyên câu, nhưng thêm vào đúng những chữ khiến câu thơ có thời gian ("thuở"), có chuyển động ("nổi cơn"), có người ("khách má hồng").
Đổi phép đo: "ngắn dài" thành "ai sầu hơn ai"
Ví dụ hay được dẫn nhất là đoạn ngàn dâu. Nguyên tác viết:
Tương cố bất tương kiến, thanh thanh mạch thượng tang.
Mạch thượng tang, mạch thượng tang, thiếp ý quân tâm thùy đoản trường?
Dịch sát nghĩa: ngoảnh nhìn nhau mà không thấy nhau, xanh xanh dâu trên bờ ruộng; dâu trên bờ, dâu trên bờ, ý thiếp lòng chàng ai ngắn ai dài? Bản Nôm viết:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Phép điệp của nguyên tác ("mạch thượng tang" lặp lại) được giữ bằng cách nối đuôi "ngàn dâu – ngàn dâu". Còn "đoản trường" (ngắn dài) là cách nói của chữ Hán để so sánh tình cảm, sang tiếng Việt thành "ai sầu hơn ai", thẳng vào nỗi buồn. Đó không còn là dịch chữ nữa mà là dịch cảm xúc.
Bớt điển tích, thêm hình ảnh
Nguyên tác dày đặc điển cố. Bản dịch giữ một phần, như non Yên, Tiêu Quan, nhưng lược bớt nhiều chỗ khó, thay bằng hình ảnh gần gũi: ngọn đèn, cây hòe, tiếng gà. Người bình dân không biết chữ Hán vẫn hiểu được, nghe ngâm vẫn khóc được.
Vì sao bản dịch quan trọng với lịch sử chữ Nôm
Thế kỷ 18 là lúc văn học chữ Nôm vươn lên thành dòng chính. Bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm chứng minh tiếng Việt có thể diễn đạt những tình cảm tinh tế nhất mà trước đó người ta nghĩ chỉ chữ Hán mới nói được. Sau nó là Cung oán ngâm khúc, rồi Truyện Kiều. Có thể nói bản dịch này góp phần mở đường cho cả một thời kỳ rực rỡ của thơ Nôm.
Đây cũng là lý do câu hỏi "ai dịch" được tranh luận gay gắt đến vậy. Nếu là Đoàn Thị Điểm, bản dịch ra đời khoảng giữa thế kỷ 18, gần như cùng lúc với nguyên tác. Nếu là Phan Huy Ích, nó muộn hơn vài chục năm, cuối thế kỷ. Mốc thời gian ấy ảnh hưởng tới cách ta vẽ lại lịch sử phát triển của thể song thất lục bát.
Tìm hiểu thêm ở đâu
- Chinh phụ ngâm bị khảo (Hoàng Xuân Hãn, 1953): có nguyên tác, các bản dịch, phần khảo cứu văn bản. Đây là sách nền cho ai muốn đi sâu.
- Các bản tuyển văn học trung đại có in song song phiên âm Hán Việt và bản Nôm, tiện cho việc đối chiếu câu với câu.
- Văn Miếu – Quốc Tử Giám và các thư viện lớn ở Hà Nội thỉnh thoảng có trưng bày, triển lãm về văn bản Hán Nôm; Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ nhiều bản chép tay.
- Nghe ngâm thơ. Các bản ghi âm ngâm Chinh phụ ngâm theo lối ngâm truyền thống giúp cảm được nhịp song thất lục bát mà đọc thầm khó thấy.
Một bài tập thú vị: chọn mười câu nguyên tác, tự dịch nghĩa từng chữ, rồi so với bản Nôm. Chỉ một buổi là thấy người dịch xưa đã đổi, thêm, bớt ở đâu, và vì sao bản của họ sống được hai trăm năm.
Câu hỏi thường gặp
Đặng Trần Côn quê ở đâu?
Đặng Trần Côn quê làng Nhân Mục, thuộc huyện Thanh Trì theo địa giới cũ, nay nằm trong nội thành Hà Nội. Ông sống vào nửa đầu thế kỷ 18, đỗ Hương cống và làm quan ở các chức không lớn.
Ai là người dịch Chinh phụ ngâm?
Bản diễn Nôm nổi tiếng theo truyền thống được ghi là của Đoàn Thị Điểm. Hoàng Xuân Hãn và nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng đó là bản của Phan Huy Ích. Đến nay chưa có bằng chứng dứt khoát, nên cách ghi thận trọng là "tương truyền Đoàn Thị Điểm, có ý kiến cho là Phan Huy Ích".
Chinh phụ ngâm viết bằng chữ gì?
Nguyên tác của Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán, theo lối trường đoản cú. Bản người Việt quen thuộc là bản diễn Nôm, viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát, ngày nay được chuyển sang chữ Quốc ngữ.
Vì sao bản dịch Chinh phụ ngâm được khen hay hơn nguyên tác?
Vì dịch giả không dịch từng chữ mà chuyển cả tác phẩm sang một thể thơ thuần Việt, lược bớt điển tích khó và thay bằng hình ảnh gần gũi. Những câu như "Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai" cho thấy người dịch chuyển được cảm xúc chứ không chỉ chuyển nghĩa.
Đoàn Thị Điểm còn tác phẩm nào khác?
Tác phẩm tiêu biểu nhất của bà là Truyền kỳ tân phả, tập truyện viết bằng chữ Hán theo lối truyền kỳ, tiếp nối truyền thống của Truyền kỳ mạn lục. Bà được xem là một trong những nữ sĩ tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ 18.