Chinh ChiếnWiki
Tìm
Thơ văn chinh chiến

Tống biệt hành và thơ tiễn biệt người đi xa từ sông Dịch đến Thâm Tâm

Tống biệt hành của Thâm Tâm tiễn người ra đi lập chí, không hẹn ngày về. Bài thơ nối truyền thống tiễn biệt từ Kinh Kha, Vương Duy, Lý Bạch đến Chinh phụ ngâm.

Tống biệt hành và thơ tiễn biệt người đi xa từ sông Dịch đến Thâm Tâm

Tống biệt hành là bài thơ của Thâm Tâm, ra đời khoảng năm 1940, tả cuộc tiễn đưa một người ra đi lập chí, dứt áo khỏi mẹ già, chị, em, không hẹn ngày về. Bài thơ nối vào một truyền thống rất dài: từ khúc hát của Kinh Kha bên sông Dịch, những bài tiễn bạn đời Đường, đến cảnh tiễn chồng trong Chinh phụ ngâm và Truyện Kiều. Hiểu truyền thống ấy, ta mới thấy cái mới của Thâm Tâm nằm ở đâu.

Thâm Tâm và hoàn cảnh bài thơ

Thâm Tâm tên thật Nguyễn Tuấn Trình (1917–1950), quê vùng Hải Dương cũ, sống bằng nghề viết và vẽ minh họa cho báo ở Hà Nội. Ông thuộc thế hệ Thơ mới nhưng giọng khác hẳn số đông: trong khi nhiều nhà thơ cùng thời say mê cái tôi buồn mộng, Thâm Tâm lại đi tìm khí phách. Hoài Thanh và Hoài Chân đưa ông vào Thi nhân Việt Nam (1942), và Tống biệt hành là bài được chọn tiêu biểu.

"Ly khách" trong bài là ai thì người đời sau đoán nhiều, có người cho là một người bạn của tác giả, có người cho là chính tác giả tự tiễn mình. Đến nay chưa có tư liệu nào xác định. Cách đọc an toàn nhất là xem ly khách như một hình tượng: người trai bỏ nhà ra đi vì chí lớn.

Bài thơ đặc biệt ở đâu

Tiếng sóng không có sông

Mở đầu bài thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Thơ tiễn biệt cổ gần như luôn có sông, có bến, có thuyền. Thâm Tâm phủ nhận ngay: không có sông nào cả. Vậy mà vẫn có sóng, chỉ là sóng trong lòng. Hai câu này vừa mượn khung cổ điển, vừa bẻ gãy nó. Tiếp ngay sau là một câu hỏi cùng kiểu: chiều không thắm, không vàng, sao mắt lại đầy hoàng hôn.

Ba người thân, ba chữ "thà"

Khổ cuối là chỗ người ta nhớ nhất:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Người ra đi tự ép mình coi những người thân yêu nhất là lá bay, hạt bụi, hơi rượu, tức những thứ nhẹ, thoảng qua, không níu được. Chữ "thà" lặp ba lần nói rằng đây là một sự cố gắng, không phải sự thật. Càng cố coi nhẹ, càng thấy nặng.

Giọng cổ trong câu thơ mới

Câu thơ dùng nhịp bảy chữ, nhưng ngắt nhịp gãy, nhiều câu hỏi, nhiều tiếng gọi "Ly khách! Ly khách!". Chữ "hành" trong tên bài là tên một thể thơ cổ Trung Hoa, thường dài, tự do, giàu khí lực, như Binh xa hành của Đỗ Phủ. Thâm Tâm còn đặt tên "hành" cho vài bài khác, cho thấy ông chủ ý tìm lại chất hào sảng của thơ cổ giữa lòng Thơ mới.

Tiễn biệt trong thơ cổ Trung Hoa

Bên sông Dịch: Kinh Kha

Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, phần Thích khách liệt truyện, khi Kinh Kha sang Tần hành thích Tần vương (năm 227 TCN), thái tử Đan nước Yên cùng khách mặc áo trắng tiễn ông bên sông Dịch. Cao Tiệm Ly gõ đàn trúc, Kinh Kha hát:

Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.
(Gió hiu hắt, sông Dịch lạnh; tráng sĩ một đi không trở lại.)

Đây là mẫu gốc của mọi cuộc tiễn "một đi không trở lại". Người đọc Tống biệt hành thường nghe thấy âm hưởng sông Dịch trong câu "Chí nhớn chưa về bàn tay không, thì không bao giờ nói trở lại".

Dương Quan: chén rượu cuối cùng

Bài "Tống Nguyên Nhị sứ An Tây" của Vương Duy tiễn bạn đi sứ ra An Tây. Hai câu cuối:

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.
(Mời anh cạn thêm một chén rượu, ra khỏi Dương Quan về phía tây sẽ không còn bạn cũ.)

Bài thơ được phổ nhạc thành khúc hát tiễn biệt thông dụng, câu cuối hát lặp ba lần nên có tên "Dương Quan tam điệp". Dương Quan nằm gần Đôn Hoàng, là cửa ải cuối cùng trước khi vào đất Tây Vực.

Hoàng Hạc lâu: cánh buồm khuất bóng

Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Dương Châu) từ lầu Hoàng Hạc. Bài thơ không có nước mắt. Chỉ có cánh buồm lẻ xa dần, mất hút vào trời xanh, chỉ thấy sông Trường Giang chảy đến chân trời. Nỗi nhớ nằm trong ánh mắt người đứng lại nhìn theo rất lâu.

Bẻ liễu tặng người đi

Thời Hán, Đường, người Trường An thường tiễn khách ở cầu Bá phía đông thành và bẻ cành liễu tặng. Chữ "liễu" đọc gần với chữ "lưu" (ở lại), nên bẻ liễu là ngầm níu kéo. Hình ảnh liễu xanh vì thế xuất hiện dày đặc trong thơ tiễn biệt.

Tiễn biệt trong văn chương Việt Nam

Văn học trung đại Việt Nam có nhiều cảnh tiễn biệt kinh điển. Trong Chinh phụ ngâm, người vợ tiễn chồng ra trận:

Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Đi bộ không theo kịp ngựa, đi đường thủy không theo kịp thuyền: người ở lại đuối sức trước khoảng cách. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tả cảnh Kiều tiễn Thúc Sinh về quê bằng hai câu thường được dẫn: "Người lên ngựa, kẻ chia bào, / Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san." Một câu hành động, một câu cảnh, chia ly đã nằm sẵn trong màu lá.

Tác phẩmAi tiễn aiHình ảnh chủ đạoGiọng
Dịch thủy ca (Kinh Kha)Thái tử Đan tiễn Kinh KhaGió, sông lạnhBi tráng, quyết tử
Tống Nguyên Nhị sứ An Tây (Vương Duy)Bạn tiễn bạn đi sứMưa sớm, liễu, chén rượu, Dương QuanÂn cần, ngậm ngùi
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên (Lý Bạch)Bạn tiễn bạn đi xaCánh buồm, sông dàiLặng, mênh mang
Chinh phụ ngâmVợ tiễn chồng ra trậnNgựa, thuyền, ngàn dâuSầu, bất lực
Truyện KiềuKiều tiễn Thúc SinhNgựa, áo bào, rừng phongBuồn, dự cảm
Tống biệt hành (Thâm Tâm)Ta tiễn ly kháchSóng trong lòng, hoàng hôn trong mắtHào hùng nén bi thương

Cái mới của Thâm Tâm so với truyền thống

  • Không cảnh thật. Thơ cổ tiễn ở bến sông, cửa ải, lầu cao. Thâm Tâm phủ nhận cảnh ("không đưa qua sông"), đưa toàn bộ cuộc tiễn vào nội tâm.
  • Người đi tự cắt đứt. Trong thơ cổ, người ở lại thường níu kéo. Ở đây chính ly khách tự dặn mẹ đừng mong, tự coi người thân như bụi, như lá.
  • Gia đình hiện diện cụ thể. Có mẹ già, có chị, có em nhỏ với chiếc khăn tay. Không còn là tình bạn văn nhân chung chung, mà là một gia đình bình thường bị bỏ lại.
  • Người tiễn đứng ngoài nhìn. Nhân vật "ta" biết rõ lòng ly khách, đoán được cả buổi chiều hôm trước, buổi sáng hôm nay. "Ta" vừa là người tiễn vừa là người kể, tạo khoảng cách để nỗi buồn không tràn ra thành than khóc.

Đọc thơ tiễn biệt hôm nay

Thơ tiễn biệt còn gần với đời sống hơn ta nghĩ: tiễn con đi du học, tiễn bạn đi làm xa, tiễn người thân ra sân bay. Vài gợi ý để đọc sâu hơn:

  • Đọc theo cặp. Đặt Dịch thủy ca cạnh Tống biệt hành, đặt bài Vương Duy cạnh đoạn tiễn trong Chinh phụ ngâm. So xem mỗi bài chọn hình ảnh gì làm trung tâm.
  • Đọc to. Tống biệt hành có nhiều chỗ ngắt nhịp gấp, câu hỏi, câu cảm. Đọc thầm sẽ mất một nửa sức nặng.
  • Tìm Thi nhân Việt Nam. Cuốn sách của Hoài Thanh và Hoài Chân vẫn là cửa vào tốt nhất cho Thơ mới, có lời bình ngắn về Thâm Tâm.
  • Tìm đọc Sử ký, phần Thích khách liệt truyện để thấy cảnh tiễn Kinh Kha được kể đầy đủ, xúc động hơn nhiều so với hai câu hát quen thuộc.

Câu hỏi thường gặp

Tống biệt hành là của ai?

Tống biệt hành là bài thơ của Thâm Tâm, tên thật Nguyễn Tuấn Trình (1917–1950). Bài ra đời khoảng năm 1940 và được chọn vào cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân.

Ly khách trong Tống biệt hành là ai?

Đến nay chưa có tư liệu xác định ly khách là người cụ thể nào. Có ý kiến cho là một người bạn của tác giả, có ý kiến cho là tác giả tự tiễn mình. Cách đọc phổ biến là xem ly khách như hình tượng người trai ra đi vì chí lớn.

Hành trong Tống biệt hành nghĩa là gì?

Hành là tên một thể thơ cổ Trung Hoa, thường dài, tự do về số câu và giàu khí thế, như Binh xa hành của Đỗ Phủ. Tống biệt hành nghĩa là "bài hành tiễn biệt".

Bài thơ tiễn biệt nổi tiếng nhất đời Đường là bài nào?

Hai bài thường được nhắc nhất là Tống Nguyên Nhị sứ An Tây của Vương Duy, với câu "Tây xuất Dương Quan vô cố nhân", và bài Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên ở lầu Hoàng Hạc. Bài của Vương Duy còn được phổ nhạc thành khúc Dương Quan tam điệp.

Vì sao người xưa bẻ liễu khi tiễn biệt?

Chữ "liễu" đọc gần với chữ "lưu" nghĩa là ở lại, nên bẻ cành liễu tặng người đi là ngầm mong họ ở lại hoặc sớm quay về. Tục này phổ biến ở Trường An thời Hán, Đường, nhất là ở cầu Bá phía đông thành.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183