Chinh ChiếnWiki
Tìm
Thơ văn chinh chiến

Binh xa hành của Đỗ Phủ: tiếng khóc tiễn quân bên cầu Hàm Dương

Binh xa hành là bài thơ Đỗ Phủ viết khoảng 750–751, tả cảnh người nhà khóc tiễn lính bên cầu Hàm Dương và lời người lính kể một đời bị chiến tranh nuốt mất.

Binh xa hành của Đỗ Phủ: tiếng khóc tiễn quân bên cầu Hàm Dương

Binh xa hành (Bài hành về xe binh) là bài thơ của Đỗ Phủ viết khoảng năm 750–751, tả cảnh cha mẹ, vợ con chạy theo níu áo khóc tiễn lính bên cầu Hàm Dương, rồi để một người lính kể lại cuộc đời bị chiến tranh nuốt mất. Đây là một trong những bài phản chiến mạnh nhất của thơ cổ Trung Hoa, và là bài đánh dấu bước Đỗ Phủ trở thành "thi sử", nhà thơ ghi lại lịch sử bằng thơ.

Mở đầu: một cảnh tiễn quân không có hào khí

Xa lân lân, mã tiêu tiêu,
Hành nhân cung tiễn các tại yêu.
Da nương thê tử tẩu tương tống,
Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều.
Khiên y đốn túc lan đạo khốc,
Khốc thanh trực thượng can vân tiêu.

Dịch nghĩa: Xe rầm rập, ngựa hí vang, người ra đi ai cũng đeo cung tên bên lưng. Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn, bụi mù không thấy cầu Hàm Dương. Níu áo, giậm chân, chắn đường mà khóc, tiếng khóc vút thẳng lên tận mây xanh.

Sáu câu đầu không có một chữ bình luận. Tiếng xe, tiếng ngựa, bụi đường, tiếng khóc. Người đọc như đang đứng bên đường. Cầu Hàm Dương bắc qua sông Vị gần Trường An, là con đường quân đi về phía tây. Bụi dày đến mức không thấy cầu, nghĩa là đoàn người rất đông.

Đem so với thơ biên tái cùng thời sẽ thấy khác biệt. Vương Xương Linh, Sầm Tham viết từ biên ải. Đỗ Phủ viết từ hậu phương, từ chỗ những người ở lại.

Lời người lính: một đời ở biên giới

Phần giữa bài là cuộc hỏi đáp. Một người qua đường hỏi, người lính trả lời. Lời kể của anh là phần đau nhất:

Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng hà,
Tiện chí tứ thập tây doanh điền.
Khứ thời lý chính dữ khỏa đầu,
Quy lai đầu bạch hoàn thú biên.

Dịch nghĩa: Có người mười lăm tuổi lên phía bắc giữ sông, đến bốn mươi lại sang phía tây làm đồn điền. Lúc đi, trưởng làng còn quấn khăn đầu cho, lúc về đầu đã bạc lại phải đi thú biên.

Chi tiết "lý chính quấn khăn đầu" cho thấy người đi còn là đứa trẻ, chưa biết tự chít khăn. Từ mười lăm đến bốn mươi, rồi tóc bạc vẫn chưa được nghỉ. Cả một đời người được kể trong bốn câu.

Tiếp đó là câu đụng thẳng tới hoàng đế: "Biên đình lưu huyết thành hải thủy, Vũ hoàng khai biên ý vị dĩ" (máu chảy nơi biên ải thành nước biển, mà ý mở mang bờ cõi của Vũ hoàng vẫn chưa thôi). Vũ hoàng là Hán Vũ Đế. Nhà thơ đời Đường mượn vua Hán để nói vua Đường, một cách nói quen của văn chương thời ấy, nhưng người đương thời ai cũng hiểu ám chỉ Đường Huyền Tông.

Làng mạc tiêu điều và cái nghịch lý sinh con

Người lính kể tiếp: ở hai trăm châu phía đông núi, nghìn thôn vạn xóm mọc đầy gai góc, vì đàn ông đi hết, đàn bà dù khỏe tay cày cuốc thì lúa vẫn mọc lộn xộn trên bờ ruộng. Quan huyện vẫn đến đòi thuế, mà thuế lấy đâu ra.

Rồi đến bốn câu nổi tiếng nhất:

Tín tri sinh nam ác,
Phản thị sinh nữ hảo.
Sinh nữ do đắc giá tỷ lân,
Sinh nam mai một tùy bách thảo.

Dịch nghĩa: Mới biết sinh con trai là khổ, sinh con gái hóa ra lại hay. Sinh con gái còn gả được cho nhà hàng xóm, sinh con trai thì bị vùi cùng cỏ dại. Trong một xã hội trọng nam như Trung Hoa cổ, câu này đảo ngược hẳn quan niệm sống, và chính sự đảo ngược ấy cho thấy chiến tranh đã làm méo mó đời sống đến mức nào.

Kết bài: tiếng quỷ khóc ở Thanh Hải

Quân bất kiến Thanh Hải đầu,
Cổ lai bạch cốt vô nhân thu.
Tân quỷ phiền oan cựu quỷ khốc,
Thiên âm vũ thấp thanh thu thu.

Dịch nghĩa: Anh chẳng thấy ở vùng Thanh Hải, xương trắng từ xưa không ai nhặt. Ma mới oan ức, ma cũ khóc than, trời âm u mưa ướt, tiếng rỉ rả. Bài thơ mở bằng tiếng người khóc ở cầu Hàm Dương, khép bằng tiếng ma khóc ở Thanh Hải. Từ người sống đến người chết, tiếng khóc không dứt.

Bối cảnh lịch sử: bài thơ viết về cuộc chiến nào

Bài thơ không ghi năm, không nêu tên cuộc chiến. Các nhà chú giải có hai hướng chính:

Giả thuyếtCăn cứĐiểm yếu
Chiến tranh với Nam Chiếu (vùng Vân Nam), năm 751Tư trị thông giám chép năm Thiên Bảo thứ 10, sau khi quân Đường thua Nam Chiếu, Dương Quốc Trung sai người đi bắt lính ở hai kinh và Hà Nam, Hà Bắc, xiềng lại giải tới quân; cha mẹ vợ con tiễn đưa, tiếng khóc vang đồng. Cảnh này rất giống mở đầu bài thơ.Phần cuối bài nói tới Thanh Hải và phía tây, không phải phía nam.
Chiến tranh với Thổ Phồn ở vùng Thanh HảiCâu kết nhắc thẳng Thanh Hải, nơi quân Đường và Thổ Phồn giao tranh nhiều năm, có những trận như hạ thành Thạch Bảo năm 749 với tổn thất rất lớn.Không có ghi chép nào nối trực tiếp bài thơ với một đợt bắt lính cụ thể.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không cần chọn một. Đỗ Phủ viết về chính sách mở biên liên miên của thời Thiên Bảo, gom nhiều cuộc chiến vào một bức tranh. Đó cũng là lý do bài thơ còn sống lâu sau khi những cuộc chiến ấy bị quên.

Tân nhạc phủ: Đỗ Phủ tự đặt đề cho thơ

Trước Đỗ Phủ, thơ nhạc phủ thường dùng lại tên điệu cũ, như "Tòng quân hành", "Xuất tái". Binh xa hành là đề do Đỗ Phủ tự đặt, theo việc trước mắt mà viết. Lối này được gọi là "tức sự danh thiên": nhân việc mà đặt tên bài. Vài chục năm sau, Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn phát triển thành phong trào Tân nhạc phủ, chủ trương thơ phải phản ánh nỗi khổ của dân.

Một bài của Bạch Cư Dị nối thẳng với Binh xa hành là "Tân Phong chiết tý ông" (Ông già gãy tay ở Tân Phong): một ông già kể rằng thời Thiên Bảo, năm hai mươi tư tuổi, ông tự đập gãy tay mình để khỏi bị bắt đi đánh Vân Nam. Hai bài, hai tác giả, cùng một thời Thiên Bảo.

Đỗ Phủ cũng không dừng ở Binh xa hành. Khoảng năm 759, giữa loạn An Sử, ông viết chùm "Tam lại, tam biệt" gồm ba bài về quan lại bắt lính và ba bài về cảnh chia ly, trong đó Thạch Hào lại là bài quen thuộc nhất với học sinh Việt Nam.

Góc nhìn hôm nay

  • Đọc như một phóng sự. Binh xa hành có cảnh mở đầu, có phỏng vấn nhân chứng, có số liệu (mười lăm tuổi, bốn mươi tuổi, hai trăm châu), có kết luận. Đọc theo cấu trúc ấy, bài thơ dài bỗng rất dễ theo.
  • Đọc cùng Tư trị thông giám. Đoạn chép năm Thiên Bảo thứ 10 về việc bắt lính đánh Nam Chiếu là một trong những ví dụ hiếm hoi mà sử và thơ soi vào nhau rõ đến vậy.
  • Đặt cạnh Chinh phụ ngâm. Câu "Chinh phu tử sĩ mấy người, nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn" có cùng nỗi ám ảnh với "cổ lai bạch cốt vô nhân thu" của Đỗ Phủ.
  • Về di tích: ở Thành Đô (Tứ Xuyên) có Đỗ Phủ thảo đường, nơi ông dựng nhà tranh sống mấy năm khi lánh loạn An Sử, nay là bảo tàng về ông. Trường An xưa nay là Tây An, sông Vị vẫn chảy qua phía bắc thành phố.

Đỗ Phủ không phản đối mọi cuộc chiến; ông từng viết những câu ca ngợi tướng giỏi giữ nước. Cái ông chống là chiến tranh mở đất vô độ, lấy máu dân đổi lấy công danh. Hiểu đúng ranh giới đó mới đọc đúng Binh xa hành.

Câu hỏi thường gặp

Binh xa hành là của ai?

Binh xa hành là bài thơ của Đỗ Phủ (712–770), nhà thơ lớn đời Đường. Bài được viết khoảng năm 750–751, thời Đường Huyền Tông, khi triều đình liên tục mở chiến tranh nơi biên giới.

Binh xa hành nghĩa là gì?

Binh xa là xe binh, xe chở quân; hành là thể thơ ca hành, một dạng thơ cổ thể dài, tự do về số câu. Binh xa hành có thể hiểu là "Bài hành về đoàn xe binh".

Binh xa hành viết về cuộc chiến nào?

Bài thơ không nêu tên cuộc chiến. Có ý kiến cho là cuộc chiến với Nam Chiếu năm 751, vì Tư trị thông giám chép cảnh bắt lính và tiễn khóc rất giống; có ý kiến cho là chiến tranh với Thổ Phồn ở Thanh Hải, vì câu kết nhắc tới vùng này. Nhiều người cho rằng bài thơ nói chung về chính sách mở biên thời Thiên Bảo.

Vì sao Đỗ Phủ được gọi là thi sử?

Vì thơ ông ghi lại nhiều sự kiện và đời sống thật của thời Đường, đặc biệt quanh loạn An Sử, đến mức có thể đọc như sử. Binh xa hành, chùm Tam lại tam biệt là những bài tiêu biểu cho lối viết này.

Câu sinh nam ác, sinh nữ hảo có ý gì?

Câu này nghĩa là sinh con trai là khổ, sinh con gái lại hay, vì con gái còn được gả cho hàng xóm, còn con trai thì bị bắt đi lính và chết vùi nơi biên ải. Nó đảo ngược quan niệm trọng nam để cho thấy chiến tranh tàn phá đời sống đến mức nào.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183