Chinh ChiếnWiki
Tìm
Thơ văn chinh chiến

Thơ biên tái đời Đường: Vương Xương Linh, Sầm Tham và Cao Thích

Thơ biên tái đời Đường viết về biên ải và đời lính. Vương Xương Linh hào hùng, Sầm Tham tả tuyết cát Tây Vực, Cao Thích phê phán bất công trong quân ngũ.

Thơ biên tái đời Đường: Vương Xương Linh, Sầm Tham và Cao Thích

Thơ biên tái đời Đường là dòng thơ viết về vùng biên ải, đời lính và chiến tranh nơi biên giới, nở rộ thời Thịnh Đường (khoảng đầu đến giữa thế kỷ 8). Ba gương mặt tiêu biểu nhất là Vương Xương Linh với khí phách giữ nước, Sầm Tham với cảnh tuyết và cát Tây Vực, và Cao Thích với cái nhìn phê phán sự bất công trong quân. Đọc ba người cạnh nhau là thấy đủ ba mặt của cùng một thời biên cương.

Vì sao thơ biên tái nở rộ đời Đường

Nhà Đường, nhất là từ thời Đường Thái Tông đến Đường Huyền Tông, mở rộng ảnh hưởng ra Tây Vực, đặt các trấn ở An Tây và Bắc Đình, giao tranh liên tục với Đột Quyết, Thổ Phồn, Khiết Đan. Quân đồn trú ở biên giới đông, các tiết độ sứ cần người có học làm mạc liêu (thư ký, tham mưu). Nhiều nhà thơ vì vậy ra biên ải thật, sống nhiều năm giữa đồn trại.

Chính trải nghiệm thật ấy làm thơ biên tái đời Đường khác hẳn những bài "tòng quân" sáo mòn đời trước. Người viết đã thấy gió cát, đã chịu lạnh, đã chứng kiến lính chết. Đến năm 755, loạn An Lộc Sơn nổ ra, nhà Đường suy, giọng thơ biên tái cũng chuyển từ hào hùng sang u uất.

Vương Xương Linh: "thất tuyệt thánh thủ" của biên ải

Vương Xương Linh (khoảng 698 – khoảng 756) được người đời sau tôn là bậc thầy thể thất ngôn tuyệt cú. Ông có đi qua vùng tây bắc thời trẻ, rồi làm quan nhỏ, nhiều lần bị biếm. Ông mất trong thời loạn An Sử.

Xuất tái: ánh trăng đời Tần, cửa ải đời Hán

Tần thời minh nguyệt Hán thời quan,
Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn.
Đãn sử Long Thành phi tướng tại,
Bất giao Hồ mã độ Âm Sơn.

Dịch nghĩa: Vẫn trăng đời Tần, vẫn ải đời Hán; đi đánh xa muôn dặm, người chưa về. Giá như còn vị phi tướng ở Long Thành, thì chẳng để ngựa Hồ vượt qua núi Âm Sơn.

Câu đầu dùng phép hỗ văn: trăng và ải thuộc cả đời Tần lẫn đời Hán, ý nói từ ngàn xưa biên ải vẫn thế, chiến tranh chưa bao giờ dứt. "Phi tướng" là danh hiệu người Hung Nô gọi Lý Quảng, danh tướng nhà Hán, theo Sử ký của Tư Mã Thiên. Bài thơ vừa than lính đi không về, vừa trách triều đình không có tướng giỏi. Có nhà phê bình đời Minh như Lý Phàn Long xếp bài này đứng đầu tuyệt cú đời Đường.

Tòng quân hành: không phá Lâu Lan thì không về

Trong chùm Tòng quân hành, câu nổi tiếng nhất là "Hoàng sa bách chiến xuyên kim giáp, bất phá Lâu Lan chung bất hoàn": cát vàng trăm trận mòn thủng áo giáp, chưa phá được Lâu Lan thì quyết không về. Lâu Lan là nước nhỏ ở Tây Vực thời Hán, trong thơ Đường đã thành tên gọi chung cho kẻ địch nơi biên ải.

Sầm Tham: người vẽ tuyết và cát Tây Vực

Sầm Tham (khoảng 715 – 770) là nhà thơ đi biên ải xa nhất và lâu nhất trong số các nhà thơ Đường nổi tiếng. Ông hai lần ra Tây Vực: lần đầu làm việc dưới quyền Cao Tiên Chi ở An Tây (vùng Kucha thuộc Tân Cương ngày nay), lần sau theo Phong Thường Thanh ở Bắc Đình (gần Urumqi ngày nay).

Thơ Sầm Tham nổi bật ở chỗ cảnh lạ: núi lửa, sa mạc, gió cuốn đá, tuyết tháng tám. Bài tiêu biểu là Bạch tuyết ca tống Vũ phán quan quy kinh (Bài ca tuyết trắng tiễn phán quan họ Vũ về kinh):

Bắc phong quyển địa bạch thảo chiết,
Hồ thiên bát nguyệt tức phi tuyết.
Hốt như nhất dạ xuân phong lai,
Thiên thụ vạn thụ lê hoa khai.

Dịch nghĩa: Gió bấc cuốn đất, cỏ trắng gãy rạp; trời Hồ mới tháng tám đã tuyết bay. Bỗng như một đêm gió xuân về, nghìn cây vạn cây hoa lê nở. Tuyết đọng trên cành được ví như hoa lê, cái lạnh khắc nghiệt bỗng thành đẹp. Đó là con mắt của người đã sống với nơi ấy đủ lâu để không còn chỉ thấy sợ.

Sầm Tham ít than khổ, nhiều hào hứng. Thơ ông cho người đọc một thứ mà sử sách không cho: cảm giác vật lý của vùng biên tây bắc, lạnh đến buốt tay, gió đến không mở mắt được.

Cao Thích: tiếng nói phê phán từ trong quân

Cao Thích (khoảng 704 – 765) là trường hợp hiếm: thời trẻ nghèo, lang bạt, ngoài bốn mươi mới ra làm quan, về sau lại thành tiết độ sứ, được phong hầu. Cựu Đường thư nhận xét rằng từ khi có nhà Đường, trong các nhà thơ chỉ có Cao Thích là người hiển đạt.

Ông từng làm việc trong mạc phủ của Kha Thư Hàn ở Hà Tây, biết rõ chuyện trong quân. Bài nổi tiếng nhất là Yên ca hành, viết khoảng năm 738, có hai câu như vết dao:

Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh,
Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ.

Dịch nghĩa: Lính ở trước trận nửa sống nửa chết, mà trong trướng tướng quân mỹ nhân vẫn còn múa hát. Hai câu đặt hai cảnh sát nhau, không cần bình luận. Đây là giọng mà Vương Xương Linh hay Sầm Tham ít có: cái nhìn từ dưới lên, của người thấy người lính bị bỏ rơi.

So sánh ba nhà thơ biên tái

Vương Xương LinhSầm ThamCao Thích
Năm sống (ước)~698 – ~756~715 – 770~704 – 765
Thể mạnhThất ngôn tuyệt cúCa hành dài, thất ngôn cổ thểCa hành, cổ thể
Trải nghiệm biên ảiĐi qua vùng tây bắc thời trẻHai lần ra An Tây, Bắc ĐìnhLàm mạc liêu ở Hà Tây
Giọng chủ đạoHùng hồn, khái quát, hoài cổKỳ lạ, hào hứng, giàu hình ảnhTrầm, phê phán, nhiều suy nghĩ
Bài nên đọc trướcXuất tái, Tòng quân hànhBạch tuyết ca, Tẩu Mã Xuyên hànhYên ca hành

Những gương mặt khác của dòng biên tái

  • Vương Chi Hoán với Lương Châu từ "Hoàng Hà viễn thượng": câu "Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan" (gió xuân không vượt qua ải Ngọc Môn) gói cả nỗi xa nhà vào một hình ảnh.
  • Vương Hàn với Lương Châu từ "Bồ đào mỹ tửu": cái say trước trận.
  • Lý Kỳ với Cổ tòng quân hành: châm biếm chuyện mỗi năm xương trắng vùi nơi hoang dã chỉ để rốt cuộc thấy giống nho được đem về nhà Hán.
  • Lý Bạch và Đỗ Phủ cũng viết thơ biên tái, nhưng họ không thuộc "phái" này. Đỗ Phủ với Binh xa hành đi xa hơn cả: không viết từ biên ải mà từ con đường làng nơi người ta khóc tiễn lính.

Cần nói thêm: "phái biên tái" là cách phân loại của các nhà nghiên cứu đời sau, không phải một nhóm thi nhân tự lập. Ranh giới giữa thơ biên tái và thơ tống biệt, thơ khuê oán nhiều khi rất mờ.

Thơ biên tái và sử thật

Thơ biên tái là văn chương, không phải chiến báo. Địa danh trong thơ thường mang tính tượng trưng: Lâu Lan, Long Thành, Âm Sơn là tên đời Hán được dùng lại cho chiến tranh đời Đường. Muốn biết chuyện thật, phải đọc thêm Cựu Đường thư, Tân Đường thư và Tư trị thông giám. Hai nguồn bổ sung cho nhau: sử cho biết năm, trận, số quân; thơ cho biết người lính cảm thấy gì.

Một số sự kiện quen thuộc làm nền cho thơ thời này: việc nhà Đường đặt An Tây đô hộ phủ để kiểm soát các thành bang Tây Vực; trận Talas năm 751, quân Đường do Cao Tiên Chi chỉ huy thua quân Abbasid ở Trung Á; và loạn An Sử từ năm 755 khiến quân biên phải rút về nội địa. Sầm Tham phục vụ Cao Tiên Chi vào khoảng trước trận ấy, nên thơ ông là chứng tích văn chương của thời cực thịnh trước khi đổ vỡ.

Góc nhìn hôm nay: đọc gì, xem gì

  • Bắt đầu bằng tứ tuyệt. Học thuộc Xuất tái và Lương Châu từ trước, vì ngắn và dễ nhớ, rồi mới đọc các bài ca hành dài của Sầm Tham, Cao Thích.
  • Đọc kèm bản đồ Hành lang Hà Tây và Tân Cương. Ngọc Môn quan, Dương Quan gần Đôn Hoàng; Kucha, Urumqi xa hơn nhiều về phía tây. Thấy khoảng cách mới hiểu chữ "vạn lý".
  • Tìm các tuyển tập Thơ Đường có in nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ. Đọc dịch nghĩa trước để nắm ý, rồi mới đọc dịch thơ.
  • Đặt cạnh Chinh phụ ngâm. Đặng Trần Côn mượn rất nhiều hình ảnh biên tái đời Đường. Đọc thơ Đường xong quay lại Chinh phụ ngâm, nhiều câu bỗng sáng ra.

Câu hỏi thường gặp

Thơ biên tái là gì?

Thơ biên tái là thơ viết về vùng biên giới, cửa ải, đời sống người lính đồn trú và chiến tranh nơi biên cương. Dòng thơ này đặc biệt phát triển thời Thịnh Đường, khi nhiều nhà thơ trực tiếp ra biên ải làm việc trong quân.

Ai là nhà thơ biên tái tiêu biểu đời Đường?

Ba gương mặt thường được nêu là Vương Xương Linh, Sầm Tham và Cao Thích. Ngoài ra còn Vương Chi Hoán, Vương Hàn, Lý Kỳ với một số bài rất nổi tiếng.

Tần thời minh nguyệt Hán thời quan nghĩa là gì?

Câu này mở đầu bài Xuất tái của Vương Xương Linh, nghĩa là trăng đời Tần, ải đời Hán. Đây là phép hỗ văn: trăng và ải đều thuộc cả hai đời, ý nói từ ngàn xưa biên ải vẫn vậy và chiến tranh chưa bao giờ dứt.

Sầm Tham và Cao Thích khác nhau thế nào?

Sầm Tham thiên về tả cảnh lạ vùng Tây Vực với giọng hào hứng, giàu hình ảnh như tuyết tháng tám ví với hoa lê. Cao Thích thiên về suy nghĩ và phê phán, tiêu biểu là cảnh lính chết trước trận trong khi tướng vẫn xem múa hát trong bài Yên ca hành.

Phi tướng Long Thành là ai?

Phi tướng là danh hiệu người Hung Nô đặt cho Lý Quảng, danh tướng nhà Hán, theo ghi chép trong Sử ký của Tư Mã Thiên. Chữ "Long Thành" trong câu thơ được các nhà chú giải hiểu theo nhiều cách, có người cho là gợi chiến công của Vệ Thanh, nên chi tiết này còn tranh luận.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183