Chinh ChiếnWiki
Tìm
Con đường tơ lụa & thương lộ cổ

Con đường tơ lụa: tuyến đường, hàng hoá và những người đi buôn

Con đường tơ lụa là mạng lưới tuyến buôn nối Trường An với Trung Á, Ba Tư và Địa Trung Hải, chở lụa, ngựa, thủy tinh và cả Phật giáo qua tay nhiều chặng thương nhân.

Con đường tơ lụa: tuyến đường, hàng hoá và những người đi buôn

Con đường tơ lụa không phải một con đường, mà là một mạng lưới tuyến buôn nối Trường An (nay là Tây An, Trung Quốc) qua các ốc đảo Trung Á tới Ba Tư và bờ Địa Trung Hải, hoạt động mạnh từ khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên đến thế kỷ 14. Đi trên đó có lụa, ngựa, thủy tinh, bạc, gia vị, nhưng quan trọng không kém là tôn giáo, kỹ thuật và chữ viết. Hiếm ai đi trọn từ đầu này tới đầu kia: hàng hoá được chuyền tay qua hàng chục chặng, mỗi chặng một nhóm thương nhân.

Cái tên ra đời muộn hơn con đường gần hai nghìn năm

Người Hán, người Sogdia hay người La Mã chưa bao giờ gọi tuyến này là "con đường tơ lụa". Chữ ấy do nhà địa lý người Đức Ferdinand von Richthofen đặt ra năm 1877, dạng tiếng Đức là Seidenstraße, khi ông khảo sát Trung Quốc để vẽ tuyến đường sắt. Ông dùng nó cho đoạn đường nối nhà Hán với Trung Á, rồi các học giả sau mở rộng ra cả mạng lưới.

Cái tên gợi một đại lộ duy nhất chở lụa đi đều đặn, trong khi thực tế là nhiều nhánh, lúc thông lúc tắc theo chiến tranh và chính sách từng triều đại.

Trương Khiên và lần mở đường của nhà Hán

Mốc thường được lấy làm khởi đầu là chuyến đi sứ của Trương Khiên. Khoảng năm 138 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế sai ông sang phía tây tìm người Nguyệt Chi để cùng đánh Hung Nô. Trương Khiên bị Hung Nô bắt giữ khoảng mười năm, lấy vợ sinh con ở đó, rồi trốn thoát, đi tiếp tới Đại Uyển (vùng thung lũng Fergana), Khang Cư và Đại Hạ (Bactria). Liên minh không thành, nhưng khoảng năm 126 trước Công nguyên ông trở về với một thứ quý hơn: hiểu biết thực địa về các nước phía tây. Sử ký của Tư Mã Thiên, thiên Đại Uyển liệt truyện, chép lại phần lớn những gì ông kể.

Thứ nhà Hán thèm nhất ở phía tây là ngựa. Đại Uyển không chịu bán "thiên mã", Hán Vũ Đế sai Lý Quảng Lợi sang đánh trong các năm 104–101 trước Công nguyên để lấy ngựa. Nhà Hán đặt đồn, nối trường thành ra Đôn Hoàng, mở hai cửa ải Ngọc Môn quan và Dương quan, cho đoàn buôn chỗ dựa để đi về phía tây.

Cần nói rõ: trước Trương Khiên, hàng hoá đã đi qua thảo nguyên và các ốc đảo. Ông không "phát minh" ra con đường, mà đưa vùng này vào chính sách của một đế chế lớn.

Tuyến đường đi qua những đâu

Từ Trường An, đường men hành lang Hà Tây (Cam Túc) tới Đôn Hoàng. Qua đó là bồn địa Tarim với sa mạc Taklamakan ở giữa. Không ai đi thẳng qua sa mạc; người ta men theo các ốc đảo ở rìa bắc hoặc rìa nam. Hai nhánh gặp lại nhau ở Kashgar, rồi leo qua cao nguyên Pamir xuống Trung Á.

ChặngĐiểm chínhĐặc điểm
Hành lang Hà TâyTrường An, Lan Châu, Vũ Uy, Trương Dịch, Tửu Tuyền, Đôn HoàngDải đất hẹp kẹp giữa núi và sa mạc, nhà Hán đóng đồn dọc đường
Nhánh bắc TarimTurfan (Cao Xương), Kucha (Quy Từ), Aksu, KashgarMen chân dãy Thiên Sơn, ốc đảo lớn và trù phú
Nhánh nam TarimLâu Lan, Miran, Khotan (Vu Điền), YarkandMen chân Côn Lôn; Khotan nổi tiếng về ngọc
Vượt PamirTashkurgan và các đèo cao trên 4.000 mĐoạn khó nhất về địa hình, gió rét quanh năm
Trung Á (Sogdiana)Samarkand, Bukhara, MervQuê của người Sogdia, trung tâm trung chuyển
Ba Tư đến Địa Trung HảiCtesiphon, Palmyra, Antioch, TyreHàng vào tay thương nhân Ba Tư, Syria rồi tới La Mã

Ngoài trục chính còn có đường thảo nguyên phía bắc, đường xuống Ấn Độ qua Gandhara, và tuyến biển qua Đông Nam Á tới Ấn Độ, vịnh Ba Tư, Biển Đỏ, về sau gánh phần lớn hàng nặng như gốm sứ.

Hàng hoá đi theo hai chiều

Lụa đi về phía tây vì chỉ Trung Hoa biết nuôi tằm, ươm tơ ở quy mô lớn suốt nhiều thế kỷ. Nhưng một đoàn lạc đà quay về phía đông cũng không đi tay không.

Từ đông sang tâyTừ tây sang đông
Lụa tấm, tơ thôNgựa Fergana, ngựa Ba Tư
Đồ sơn mài, gương đồngThủy tinh La Mã và Syria
Giấy (từ khoảng thế kỷ 8 lan ra phía tây)Đồ bạc, đồ vàng Sasanid
Gốm sứ (chủ yếu theo đường biển)Len, thảm, vải bông
Trà (về sau)Nho, cỏ linh lăng, vừng, hồ đào
Kỹ thuật in, la bàn (lan dần, nhiều tranh cãi về đường đi)Ngọc lưu ly, đá quý, hương liệu

Sử ký ghi sứ nhà Hán mang hạt nho và cỏ linh lăng (mục túc) từ Đại Uyển về trồng, cỏ nuôi ngựa, nho làm rượu.

Phật giáo từ Ấn Độ qua Gandhara và các ốc đảo Tarim tới Trung Hoa. Hang Mạc Cao ở Đôn Hoàng, hang Kizil ở Kucha là dấu vết rõ nhất. Đạo Mani, Cảnh giáo (một nhánh Kitô giáo phương Đông), Hỏa giáo và về sau Hồi giáo cũng đi theo các đoàn buôn.

Ai thật sự đi trên con đường

Người Sogdia, những người trung gian

Nếu phải chọn một dân tộc gắn với con đường tơ lụa, các nhà sử học hiện nay thường chọn người Sogdia, quê ở vùng Samarkand và Bukhara. Họ lập các khu định cư dọc hành lang Hà Tây và cả ở Trường An, Lạc Dương. Năm 1907, nhà khảo cổ Aurel Stein tìm thấy trong một tháp canh gần Đôn Hoàng một túi thư tiếng Sogdia, nay gọi là "Những lá thư cổ", thường được định niên vào đầu thế kỷ 4. Trong đó có thư của một người phụ nữ tên Miwnay bị chồng bỏ lại ở Đôn Hoàng, không tiền về quê: con đường nhìn qua mắt người trong cuộc là nợ nần, chiến loạn, ly tán.

Buôn chuyền tay, ít người đi trọn

Một tấm lụa dệt ở Trường An có thể đổi chủ năm, sáu lần trước khi tới Syria, mỗi chặng cộng thêm lãi, thuế và rủi ro. Vì vậy giá lụa ở La Mã cao gấp nhiều lần giá gốc, và người La Mã gần như không biết người làm ra lụa là ai. Họ gọi chung là Seres, "người tơ".

Nhà sử học Valerie Hansen, đọc văn bản khai quật ở Turfan và Niya, lưu ý phần lớn giao dịch là buôn bán địa phương nhỏ, còn nhà Đường đổ lụa vào Tây Vực chủ yếu để trả lương lính đồn trú. Con đường sôi động nhất khi có nhà nước đứng sau.

Cùng đi với thương nhân còn có sư tăng tìm kinh như Pháp Hiển, Huyền Trang, sứ thần, tù binh và người chạy loạn. Họ để lại nhiều ghi chép hơn thương nhân, nên phần lớn hiểu biết của ta về con đường lại đến từ họ.

La Mã, lụa và một đoàn sứ qua Nhật Nam

Lụa tới La Mã vào khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên và nhanh chóng thành thứ xa xỉ của giới quyền quý. Pliny Già, trong bộ Lịch sử tự nhiên, than rằng mỗi năm Ấn Độ, xứ Seres và bán đảo Ả Rập rút khỏi đế quốc ít nhất một trăm triệu sestertius. Đó là lời than của nhà đạo đức chứ không phải sổ hải quan, nhưng cho thấy người đương thời thấy dòng tiền chảy về đông lớn thế nào.

Năm 97, tướng nhà Hán Ban Siêu sai Cam Anh đi sứ Đại Tần (tên người Hán gọi La Mã). Cam Anh tới bờ một vùng biển lớn, có lẽ là vịnh Ba Tư, nghe người An Tức (Parthia) bảo vượt biển mất tới hai năm thì quay về; có lẽ người Parthia cố ý dọa để giữ vai trung gian.

Chi tiết đáng chú ý với người Việt nằm trong Hậu Hán thư, phần Tây Vực truyện: năm Diên Hy thứ 9 (166), vua Đại Tần là An Đôn sai sứ từ ngoài cõi Nhật Nam tới dâng ngà voi, sừng tê, đồi mồi, "từ đó mới thông". Nhật Nam là quận cực nam của nhà Hán, thuộc miền Trung Việt Nam ngày nay. "An Đôn" thường được đối chiếu với hoàng đế Marcus Aurelius Antoninus. Giới nghiên cứu phần đông cho rằng đoàn này là thương nhân tự xưng sứ giả, vì lễ vật toàn là sản vật vùng nhiệt đới chứ không phải hàng La Mã. Dù vậy, ghi chép cho thấy tuyến biển qua bờ biển Việt Nam đã là một nhánh của mạng lưới từ rất sớm.

Độc quyền tơ lụa của Trung Hoa kết thúc ở phía tây vào thế kỷ 6. Theo sử gia Byzantine Procopius, khoảng năm 552 có mấy nhà sư mang trứng tằm giấu trong gậy tre về Constantinopolis dâng hoàng đế Justinian. Chi tiết gậy tre có thể là thêm thắt, nhưng việc Byzantium tự nuôi tằm từ giữa thế kỷ 6 thì chắc chắn.

Thịnh, suy và những mốc chính

  • Thế kỷ 2 TCN – thế kỷ 2: nhà Hán mở Tây Vực; lụa tới La Mã; năm 166 "sứ Đại Tần" tới qua Nhật Nam.
  • Khoảng năm 552: Byzantium có trứng tằm, độc quyền tơ lụa ở phía tây chấm dứt.
  • Thế kỷ 7–8: nhà Đường kiểm soát Tây Vực, thời cực thịnh của tuyến bộ.
  • 751–755: trận Talas với quân Abbasid, rồi loạn An Sử; nhà Đường rút dần khỏi Tây Vực.
  • Thế kỷ 13–14: đế quốc Mông Cổ nối liền lục địa, các chuyến đi như của Marco Polo trở nên khả thi.
  • Từ thế kỷ 15: tuyến biển lấn át tuyến bộ.

Chuyện thợ giấy bị bắt ở Talas truyền nghề cho Samarkand rất phổ biến, nhưng giấy có lẽ đã có ở Trung Á trước đó; nên coi đây là chuyện kể hơn là bằng chứng.

Góc nhìn hôm nay: đi xem và đọc gì

Năm 2014, UNESCO công nhận "Con đường tơ lụa: mạng lưới tuyến đường hành lang Trường An – Thiên Sơn" là di sản thế giới, gồm 33 điểm ở Trung Quốc, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Năm 2023 thêm hành lang Zarafshan – Karakum ở Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan. Samarkand, Bukhara, Khiva là các thành cổ dễ đến nhất.

Ở Việt Nam, dấu vết nằm ở nhánh biển: khu di tích Óc Eo ở An Giang, phố cổ Hội An, các con tàu đắm chở gốm. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội và Bảo tàng Gốm sứ mậu dịch ở Hội An có hiện vật cho thấy Việt Nam đứng trên tuyến buôn này.

Sách nên đọc: The Silk Roads của Peter Frankopan (2015) cho cái nhìn rộng, đặt Trung Á vào trung tâm; The Silk Road: A New History của Valerie Hansen dựa trên văn bản khai quật, thực tế và ít lãng mạn hơn.

Bài học đáng giữ: thương mại đường dài không cần ai đi trọn đường, chỉ cần mỗi chặng có người tin nhau đủ để giao hàng.

Câu hỏi thường gặp

Con đường tơ lụa bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu?

Điểm đầu thường được lấy là Trường An (Tây An ngày nay), kinh đô nhà Hán và nhà Đường. Điểm cuối phía tây là các thành ven Địa Trung Hải như Antioch, Tyre, rồi tới La Mã và Constantinopolis. Thực tế đây là mạng lưới nhiều nhánh, không có một điểm đầu hay điểm cuối duy nhất.

Ai là người mở ra con đường tơ lụa?

Trương Khiên, sứ thần của Hán Vũ Đế, thường được coi là người mở đường nhờ chuyến đi sứ Tây Vực khoảng năm 138–126 trước Công nguyên. Tuy vậy, trao đổi hàng hoá qua Trung Á đã có từ trước. Công của Trương Khiên là đưa vùng này vào chính sách của nhà Hán.

Tại sao gọi là con đường tơ lụa?

Cái tên do nhà địa lý Đức Ferdinand von Richthofen đặt năm 1877, vì lụa là mặt hàng nổi tiếng nhất đi từ Trung Hoa sang phương tây. Người xưa không dùng tên này. Ngoài lụa còn có ngựa, thủy tinh, bạc, giấy, gốm, gia vị và nhiều thứ khác.

Con đường tơ lụa có đi qua Việt Nam không?

Tuyến bộ chính không đi qua Việt Nam, nhưng nhánh đường biển thì có. Hậu Hán thư chép năm 166 có đoàn tự xưng sứ Đại Tần (La Mã) tới qua quận Nhật Nam. Óc Eo và Hội An là dấu vết rõ nhất.

Vì sao con đường tơ lụa suy tàn?

Các đế chế kiểm soát Trung Á tan rã, chiến tranh làm tắc đường, và từ thế kỷ 15 tàu biển chở được nhiều hàng hơn với giá rẻ hơn. Khi người châu Âu vòng qua châu Phi sang Ấn Độ, vai trò của tuyến bộ giảm hẳn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183