Chinh ChiếnWiki
Tìm
Con đường tơ lụa & thương lộ cổ

Con đường gốm sứ trên biển và vị trí của gốm Việt Nam

Con đường gốm sứ trên biển nối Trung Hoa, Đông Nam Á và Trung Đông. Việt Nam vừa là chặng dừng vừa là nơi làm gốm xuất khẩu, nổi bật là gốm hoa lam Chu Đậu thế kỷ 15.

Con đường gốm sứ trên biển và vị trí của gốm Việt Nam

Con đường gốm sứ trên biển là tên các nhà nghiên cứu đặt cho tuyến buôn đường biển nối Trung Hoa, Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Đông, nơi gốm sứ là hàng hoá chủ lực từ khoảng thế kỷ 9 đến thế kỷ 18. Việt Nam nằm ngay trên tuyến này: vừa là chặng dừng của thuyền buôn, vừa là nơi sản xuất gốm xuất khẩu, nổi bật là gốm hoa lam Chu Đậu thế kỷ 15–16. Các con tàu đắm ở Cù Lao Chàm, Bình Châu, Bình Thuận, Cà Mau là bằng chứng rõ nhất.

Vì sao lại là "con đường gốm sứ"

Tên gọi "con đường gốm sứ" được học giả Nhật Bản Mikami Tsugio phổ biến từ cuối thập niên 1960, khi ông lần theo mảnh gốm Trung Hoa tìm thấy dọc bờ biển từ Đông Nam Á tới Ai Cập. Lý do gốm trở thành biểu tượng của tuyến biển khá thực tế:

  • Nặng và chắc: gốm xếp dưới đáy khoang làm vật dằn, tơ lụa và hàng nhẹ chất ở trên. Lạc đà chở không nổi số lượng lớn, tàu biển thì chở được hàng chục nghìn chiếc một chuyến.
  • Không mục: lụa, gia vị, gỗ thơm tan biến dưới nước hay dưới đất, còn gốm thì còn nguyên sau nghìn năm. Vì vậy trong di chỉ và tàu đắm, gốm gần như luôn là thứ được tìm thấy nhiều nhất.
  • Có niên đại: kiểu dáng, men, hoa văn thay đổi theo từng thời, nhiều chiếc còn ghi niên hiệu. Gốm là "đồng hồ" để định tuổi cả con tàu.

Cần nhớ rằng tên gọi phản ánh thứ còn lại, không hẳn thứ quan trọng nhất lúc đương thời. Trầm hương, hồ tiêu, tơ lụa có thể đem lại nhiều lời hơn, chỉ là chúng không để lại dấu vết.

Những con tàu kể lại tuyến đường

Năm 1998, ngư dân phát hiện ngoài khơi đảo Belitung (Indonesia) xác một chiếc thuyền buồm kiểu Ả Rập, đóng bằng ván khâu dây, chở khoảng 60.000 món gốm Trường Sa (Hồ Nam) cùng đồ vàng bạc đời Đường. Một chiếc bát ghi niên hiệu tương ứng năm 826. Con tàu chứng minh rằng ngay thế kỷ 9 đã có thuyền chở gốm Trung Hoa đi thẳng về phía vịnh Ba Tư, qua vùng biển Đông Nam Á.

Từ đó tới thời Minh, Thanh, tuyến biển ngày càng đông. Các cảng Quảng Châu, Tuyền Châu xuất gốm Long Tuyền, Cảnh Đức Trấn đi khắp nơi; thuyền Ả Rập, Ba Tư, Ấn Độ, Mã Lai rồi thuyền mành Trung Hoa chạy dọc bờ biển Việt Nam theo gió mùa.

Việt Nam: chặng dừng và lò gốm xuất khẩu

Vân Đồn, cảng ngoại thương của Đại Việt

Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1149, đời Lý Anh Tông, thuyền buôn các nước Trảo Oa (Java), Lộ Lạc, Xiêm La vào hải phận Hải Đông xin ở lại buôn bán, triều đình cho lập trang ở hải đảo gọi là Vân Đồn. Khảo cổ học ở vùng Vân Đồn (Quảng Ninh) đã tìm được nhiều gốm Trung Hoa, gốm Việt các đời Lý, Trần, Lê, cho thấy đây là nơi hàng hoá ra vào suốt nhiều thế kỷ.

Gốm Chu Đậu và bình Topkapi

Thế kỷ 15–16, các lò ở vùng Nam Sách, Cẩm Giàng thuộc xứ Hải Dương xưa (nay thuộc thành phố Hải Phòng) làm gốm hoa lam vẽ men lam dưới men trong, cùng gốm men trắng, gốm vẽ nhiều màu. Trung tâm tiêu biểu là làng Chu Đậu.

Hiện vật nổi tiếng nhất là chiếc bình hoa lam ở bảo tàng cung điện Topkapi, Istanbul. Trên vai bình có dòng chữ Hán ghi năm Thái Hòa thứ 8 (1450), người thợ Bùi Thị Hý ở châu Nam Sách vẽ. Chiếc bình được biết đến từ lâu, nhưng phải đến cuối thế kỷ 20, khi khảo cổ học tìm ra lò ở Chu Đậu, người ta mới khớp được nơi làm ra nó. Đây cũng là một trong số rất ít tác phẩm gốm cổ Việt Nam có ghi tên người thợ, mà lại là một phụ nữ.

Gốm Chăm ở Gò Sành

Ở phía nam, các lò gốm của Champa tại Gò Sành, vùng Vijaya xưa (Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai), làm gốm men xanh, men nâu trong khoảng thế kỷ 14–15. Gốm Gò Sành được tìm thấy ở Philippines, Indonesia Tàu đắm Pandanan ngoài khơi Palawan (Philippines), chìm giữa thế kỷ 15, chở rất nhiều gốm Việt cùng gốm Trung Hoa và Thái, cho thấy các lò ở dải đất Việt Nam khi ấy đã bán hàng ra cả khu vực.

Khoảng trống thời Minh: cơ hội cho gốm Việt

Năm 1371, nhà Minh ban lệnh hải cấm, hạn chế tư nhân ra biển buôn bán. Lệnh này lỏng chặt theo từng giai đoạn và chỉ bãi bỏ thực sự năm 1567. Nhà nghiên cứu Roxanna Brown, khi thống kê hàng hoá trên các tàu đắm Đông Nam Á, nhận thấy giữa thế kỷ 15 tỉ lệ gốm Trung Hoa giảm hẳn, nhường chỗ cho gốm Việt Nam và gốm Thái Lan (Sawankhalok, Sukhothai). Bà gọi đó là "khoảng trống thời Minh".

Đây là cách giải thích được nhiều người chấp nhận cho sự bùng nổ của gốm Chu Đậu: khách hàng Đông Nam Á, Trung Đông, Nhật Bản vẫn cần đồ gốm hoa lam, và lò Việt Nam lấp chỗ trống. Gốm Việt thế kỷ 15 được tìm thấy ở cung điện Topkapi, ở Ai Cập, ở kinh đô Trowulan của Majapahit trên đảo Java (dưới dạng gạch ốp vẽ lam đặt làm riêng), ở Nhật Bản, nơi giới trà đạo về sau rất chuộng loại bát gốm lam gọi là "An Nam".

Khi nhà Minh nới cấm, gốm Cảnh Đức Trấn và gốm Chương Châu ồ ạt quay lại thị trường, cùng với chiến tranh trong nước ở Đại Việt thế kỷ 16, gốm xuất khẩu Việt Nam thu hẹp dần.

Những con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam

Tàu đắmPhát hiện, khai quậtNiên đại hàngHàng chính
Cù Lao Chàm (Hội An)Phát hiện đầu thập niên 1990, khai quật cuối thập niên 1990 ở độ sâu khoảng 70 mCuối thế kỷ 15Gốm hoa lam Chu Đậu, hơn 200.000 hiện vật
Bình Châu (Quảng Ngãi)2012–2013Khoảng thế kỷ 13–14Gốm Trung Hoa thời Tống – Nguyên
Bình Thuận2001–2002Cuối thế kỷ 16 – đầu 17Gốm Chương Châu thời Minh
Cà Mau1998–1999Đầu thế kỷ 18 (thời Ung Chính)Đồ sứ Cảnh Đức Trấn, Đức Hóa

Con tàu ở Cù Lao Chàm đặc biệt quan trọng: nó chở gần như toàn gốm Việt, cho thấy rõ quy mô của gốm xuất khẩu Đại Việt thế kỷ 15. Một phần lớn hiện vật đã được đem bán đấu giá ở nước ngoài năm 2000 theo hợp đồng trục vớt thời đó, phần còn lại thuộc các bảo tàng trong nước. Câu chuyện ấy là một bài học về giá trị của di sản dưới nước: trục vớt vì thương mại thì có tiền, nhưng tư liệu và hiện vật bị phân tán khó gom lại.

Ghi chú: số liệu từng con tàu khác nhau theo nguồn công bố, vì các lần khai quật kéo dài và hiện vật được kiểm kê nhiều đợt. Con số nêu trên là mức thường được dẫn, nên coi là ước lượng.

Góc nhìn hôm nay: xem gốm ở đâu, nhận biết thế nào

Nơi xem

  • Bảo tàng Gốm sứ mậu dịch Hội An trên phố Trần Phú: trưng bày gốm từ nhiều tàu đắm và di chỉ quanh Hội An.
  • Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội) và bảo tàng các tỉnh ven biển nơi có tàu đắm: hiện vật từ các đợt khai quật Cà Mau, Bình Thuận.
  • Bảo tàng Quảng Ngãi: hiện vật tàu Bình Châu.
  • Làng Chu Đậu: lò gốm đã được khôi phục, có khu trưng bày hiện vật khai quật.

Phân biệt nhanh gốm hoa lam Việt và Trung Hoa

Đây chỉ là gợi ý của người xem, không thay được giám định chuyên môn. Men lam của Chu Đậu thường ngả xám hoặc lam đậm loang, nét vẽ phóng khoáng, nhanh tay; men trắng thường hơi ngả ngà. Đáy nhiều đồ Việt được quét một lớp nâu (thường gọi là "son đáy"), điều ít gặp ở đồ Cảnh Đức Trấn. Đồ Trung Hoa cùng thời thường có men lam đều màu và nét vẽ chuẩn mực hơn.

Một lời nhắc

Theo luật Việt Nam, di vật, cổ vật dưới nước thuộc sở hữu toàn dân. Mua bán gốm "vớt từ tàu đắm" trôi nổi trên thị trường vừa dễ gặp đồ giả vừa có thể vi phạm pháp luật. Muốn sưu tầm, hãy hỏi rõ nguồn gốc và giấy tờ.

Sách nên đọc: các công trình về gốm Chu Đậu và gốm xuất khẩu của PGS.TS Tăng Bá Hoành, Nguyễn Đình Chiến; cuốn Gốm Việt Nam của Trần Khánh Chương; và với người đọc tiếng Anh, các nghiên cứu của John Guy về gốm thương mại Đông Nam Á.

Câu hỏi thường gặp

Con đường gốm sứ trên biển là gì?

Đó là tên gọi tuyến buôn đường biển nối Trung Hoa với Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Đông, nơi gốm sứ là hàng hoá chủ lực. Tuyến này sôi động từ khoảng thế kỷ 9 đến thế kỷ 18. Gốm được tìm thấy nhiều vì bền, không mục dưới nước như lụa hay gia vị.

Gốm Chu Đậu ở đâu và nổi tiếng thời nào?

Gốm Chu Đậu được làm ở vùng Nam Sách thuộc xứ Hải Dương xưa, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Gốm nổi tiếng nhất vào thế kỷ 15–16 với dòng hoa lam xuất khẩu đi Đông Nam Á, Trung Đông và Nhật Bản.

Bình gốm Topkapi có gì đặc biệt?

Đó là bình gốm hoa lam Việt Nam hiện ở bảo tàng Topkapi, Istanbul, ghi năm Thái Hòa thứ 8 (1450) và tên người thợ vẽ Bùi Thị Hý ở châu Nam Sách. Đây là bằng chứng gốm Việt từng đi xa tới Trung Đông và là hiện vật mấu chốt giúp xác định dòng gốm Chu Đậu.

Tàu cổ Cù Lao Chàm chở gì?

Con tàu đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm, Hội An, chở chủ yếu gốm hoa lam Chu Đậu cuối thế kỷ 15, với hơn 200.000 hiện vật theo các con số thường được dẫn. Nó cho thấy quy mô lớn của gốm xuất khẩu Đại Việt thời Lê sơ.

Vì sao gốm Việt xuất khẩu mạnh vào thế kỷ 15?

Một lý do được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận là lệnh hải cấm của nhà Minh làm nguồn gốm Trung Hoa ra biển giảm sút. Gốm Việt Nam và gốm Thái Lan lấp chỗ trống trên thị trường Đông Nam Á và xa hơn. Khi nhà Minh nới cấm năm 1567, gốm Trung Hoa quay lại chiếm ưu thế.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183