Thời xưa, thuyền buôn qua Biển Đông đi theo nhịp gió mùa: gió đông bắc từ khoảng tháng 11 đến tháng 3 đẩy thuyền từ Trung Hoa, Nhật Bản xuống phía nam, gió tây nam từ khoảng tháng 5 đến tháng 9 đưa thuyền trở về. Tuyến chính men theo bờ biển miền Trung Việt Nam, lấy các đảo ven bờ như cù lao Chàm, Lý Sơn, Côn Đảo làm mốc, rồi rẽ vào vịnh Thái Lan hoặc xuống eo biển Malacca. Dọc tuyến ấy, các thương cảng như Óc Eo, Vân Đồn, cảng Chăm, Hội An lần lượt hưng thịnh.
Gió mùa: chiếc đồng hồ của mọi hải trình
Thuyền buồm thời xưa không đi ngược gió mùa được trên quãng dài. Vì thế lịch buôn bán Biển Đông gần như cố định. Thuyền từ Quảng Châu, Phúc Kiến, Ninh Ba hay Nagasaki xuất phát vào cuối năm, khi gió đông bắc đã ổn định, xuôi xuống phía nam trong vài tuần. Tới nơi, họ phải ở lại bán hàng, mua hàng, sửa thuyền, chờ đến khoảng tháng 5–6 khi gió tây nam nổi lên mới quay về.
Chính thời gian chờ đợi ấy làm nảy sinh các phiên chợ lớn và các khu phố của người nước ngoài ở thương cảng. Giáo sĩ người Ý Cristoforo Borri, sống ở Đàng Trong khoảng năm 1618–1622, tả lại hội chợ hằng năm ở Hội An kéo dài nhiều tháng, có thương nhân Trung Hoa và Nhật Bản mang tới bạc, đồng, lụa, đồ sứ. Nhịp gió mùa là lý do các thương cảng Việt Nam không chỉ là trạm dừng chân mà là nơi người nước ngoài sống, cưới vợ, lập hội quán.
Đường đi: men bờ, lấy đảo làm mốc
Hải trình cổ không cắt thẳng qua giữa biển. Thuyền đi theo bờ đất liền ở khoảng cách đủ thấy núi, vì núi và đảo là mốc định hướng, là nơi lấy nước ngọt, tránh bão. Một tuyến tiêu biểu từ miền Nam Trung Hoa xuống phía nam có thể tóm tắt như sau:
- Rời bờ Quảng Đông hoặc Phúc Kiến, đi qua phía đông đảo Hải Nam, vùng biển người Trung Hoa gọi là Thất Châu dương.
- Băng qua vùng biển phía ngoài vịnh Bắc Bộ (sách cổ Trung Hoa gọi là Giao Chỉ dương) để bắt gặp bờ miền Trung.
- Men theo bờ Chiêm Thành, nhận các mốc như Ngoại La sơn (nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất với đảo Lý Sơn), cù lao Chàm, các mũi đất cao ở Khánh Hòa, Ninh Thuận.
- Tới Côn Lôn (Côn Đảo), ngã ba quan trọng: rẽ tây vào vịnh Thái Lan và sông Mekong, hoặc xuống phía nam tới eo biển Malacca, Sumatra, Java.
Chu Đạt Quan, người theo sứ đoàn nhà Nguyên sang Chân Lạp năm 1296, tả chính tuyến này trong Chân Lạp phong thổ ký: từ Ôn Châu ra biển, qua Thất Châu dương, Giao Chỉ dương, tới Chiêm Thành, rồi qua Côn Lôn dương mà vào cửa sông. Các sách hải trình đời Minh như Đông Tây dương khảo (1617) còn ghi hướng la bàn và số "canh" (đơn vị thời gian đi biển) giữa từng mốc.
Những thương cảng dọc bờ Việt Nam qua các thời kỳ
| Thời kỳ | Thương cảng | Ghi chú |
|---|---|---|
| khoảng thế kỷ 1–7 | Óc Eo (An Giang) | cảng thị của vương quốc Phù Nam, tìm thấy hiện vật từ La Mã, Ấn Độ, Trung Hoa |
| khoảng thế kỷ 7–15 | các cảng Chăm: cù lao Chàm, Thị Nại (Bình Định)… | thương nhân Ả Rập, Ba Tư biết đến Champa như trạm cung cấp trầm hương và nước ngọt |
| từ năm 1149 | Vân Đồn (Quảng Ninh) | Đại Việt sử ký toàn thư chép thuyền buôn Trảo Oa (Java), Lộ Lạc, Xiêm La xin cư trú buôn bán, vua Lý Anh Tông cho lập trang Vân Đồn |
| thế kỷ 16–18 | Hội An (Đàng Trong) | thương cảng quốc tế; thuyền Châu ấn Nhật Bản, thuyền Trung Hoa, tàu Bồ Đào Nha, Hà Lan |
| thế kỷ 17 | Phố Hiến (Đàng Ngoài) | cửa ngõ vào Thăng Long; Công ty Đông Ấn Hà Lan lập thương điếm từ năm 1637 |
| thế kỷ 18 | Hà Tiên, Gia Định | thương cảng phía nam, nối với vịnh Thái Lan và Mã Lai |
Chuyện Óc Eo, Hội An như những trung tâm thương mại có thể đọc riêng; ở đây điều đáng chú ý là chúng đều nằm trên cùng một trục gió mùa. Khi trục ấy dịch chuyển, do biến động chính trị, chính sách hải cấm ở Trung Hoa hay Nhật Bản đóng cửa (từ thập niên 1630), các cảng cũng thịnh suy theo.
Hàng hóa đi qua Biển Đông
Chiều xuống phía nam, thuyền Trung Hoa chở gốm sứ, tơ lụa, đồ đồng, tiền đồng, giấy, thuốc bắc. Chiều lên phía bắc, thuyền chở hồ tiêu, trầm hương, kỳ nam, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, gỗ quý, gạo, đường. Đất Việt đóng góp nhiều mặt hàng được săn tìm: trầm hương và kỳ nam vùng núi Chăm Pa, quế Thanh Hóa và Quảng Nam, tơ lụa Đàng Ngoài, đường và lụa Đàng Trong, gốm sứ Chu Đậu – Hải Dương thế kỷ 15–16.
Ở thế kỷ 17, đồng và bạc từ Nhật Bản đổ vào Hội An, trong khi tơ lụa Trung Hoa được mua lại ở đây để chở sang Nhật, vì nhà Minh cấm buôn bán trực tiếp với Nhật Bản. Đàng Trong đóng vai trò "chợ trung gian" giữa hai nền kinh tế lớn không được nói chuyện thẳng với nhau.
Hiểm nguy trên hải trình và những con tàu nằm lại
Người đi biển Trung Hoa có câu "thượng phạ Thất Châu, hạ phạ Côn Lôn", đi lên thì sợ vùng Thất Châu, đi xuống thì sợ vùng Côn Lôn, vì sóng gió, đá ngầm và cướp biển. Ngoài khơi, các dải đá ngầm và bãi san hô giữa Biển Đông là nỗi ám ảnh của thuyền bị bão đánh dạt khỏi tuyến men bờ. Sách vở Trung Hoa gọi chúng bằng những tên như Vạn Lý Thạch Đường, Thiên Lý Trường Sa; tư liệu Việt Nam thế kỷ 17 gọi là Bãi Cát Vàng. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), chúa Nguyễn cho lập Đội Hoàng Sa, hằng năm ra các đảo thu nhặt hàng hóa từ những con tàu bị đắm.
Những con tàu không về được nay là kho tư liệu dưới đáy biển. Con tàu đắm gần cù lao Chàm (khai quật cuối thập niên 1990) chở hàng trăm nghìn hiện vật gốm Chu Đậu thế kỷ 15, minh chứng cho thời đỉnh cao của gốm Việt xuất khẩu. Tàu đắm Cà Mau (khai quật 1998–1999) chở đồ sứ Cảnh Đức Trấn đời Ung Chính. Tàu đắm Bình Châu ở Quảng Ngãi (phát hiện năm 2013) mang hàng gốm Trung Hoa thời Tống – Nguyên. Mỗi con tàu là một lát cắt của tuyến buôn bán ở một thời điểm.
Góc nhìn hôm nay
Nhìn bản đồ hải trình xưa, ta hiểu vì sao bờ biển miền Trung, nơi đất hẹp, đất xấu, lại có những thương cảng phồn thịnh: dải bờ ấy nằm đúng trên con đường gió mùa của cả châu Á. Biển không chia cắt mà nối các vùng đất lại với nhau, theo một lịch trình do gió quyết định.
Người muốn tìm hiểu có thể đến Bảo tàng Gốm sứ mậu dịch ở phố cổ Hội An, xem hiện vật từ các tàu đắm; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội và bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi cũng giữ hiện vật tàu đắm, nên xem lịch trưng bày trước khi đến; khu di tích Vân Đồn ở Quảng Ninh và di tích Óc Eo – Ba Thê ở An Giang. Về sách, có thể đọc Chân Lạp phong thổ ký (đã có bản dịch tiếng Việt), Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và các công trình của nhà nghiên cứu Li Tana về kinh tế Đàng Trong. Một mẹo khi đọc: hãy mở bản đồ gió mùa bên cạnh, mọi hải trình sẽ trở nên dễ hiểu hơn.
Câu hỏi thường gặp
Thuyền buôn xưa đi qua Biển Đông vào mùa nào?
Thuyền từ Trung Hoa, Nhật Bản xuống phía nam theo gió mùa đông bắc, khoảng tháng 11 đến tháng 3. Chiều về đi theo gió mùa tây nam, khoảng tháng 5 đến tháng 9. Vì vậy thương nhân thường phải ở lại thương cảng vài tháng chờ gió.
Vân Đồn được lập năm nào?
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1149 đời vua Lý Anh Tông, thuyền buôn các nước Trảo Oa (Java), Lộ Lạc và Xiêm La vào vùng Hải Đông xin cư trú buôn bán, nhà Lý cho lập trang Vân Đồn trên hải đảo, thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
Côn Đảo có vai trò gì trên hải trình xưa?
Côn Lôn, tức Côn Đảo, là mốc định hướng quan trọng ở cực nam tuyến men bờ Việt Nam. Từ đây thuyền rẽ tây vào vịnh Thái Lan và sông Mekong hoặc xuống eo biển Malacca. Người đi biển Trung Hoa xưa coi vùng biển Côn Lôn là đoạn nguy hiểm vì sóng gió.
Thương cảng nào lớn nhất Việt Nam thời xưa?
Mỗi thời kỳ có một trung tâm khác nhau: Óc Eo thời Phù Nam, các cảng Chăm thời Champa, Vân Đồn thời Lý – Trần, Hội An và Phố Hiến thế kỷ 17. Hội An là thương cảng quốc tế được biết đến nhiều nhất nhờ còn giữ được phố cổ.
Những tàu đắm nào được khai quật ở vùng biển Việt Nam?
Một số con tàu tiêu biểu là tàu đắm cù lao Chàm chở gốm Chu Đậu thế kỷ 15, tàu đắm Cà Mau chở đồ sứ đời Ung Chính nhà Thanh và tàu đắm Bình Châu ở Quảng Ngãi mang gốm Trung Hoa thời Tống – Nguyên. Hiện vật được trưng bày ở nhiều bảo tàng trong nước.