Muốn đọc thơ chinh chiến cổ cho đúng, cần hai thứ: biết một nhóm nhỏ điển tích lặp đi lặp lại (Ban Siêu ném bút, Mã Viện da ngựa bọc thây, non Yên khắc đá, Ngọc Môn quan, Lâu Lan…), và nhận ra bài thơ đang nói bằng giọng nào: hào hùng, bi thương hay phê phán. Chỉ khoảng hai chục điển là đủ mở khóa phần lớn thơ biên tái đời Đường và Chinh phụ ngâm. Bài này là bộ chìa khóa đó, kèm cách đọc từng bước.
Vì sao thơ chinh chiến cổ khó đọc
Người xưa viết cho người cùng thời, những người đã học thuộc Sử ký, Hán thư từ nhỏ. Một chữ "non Yên" với họ gợi ngay cả một câu chuyện; với ta chỉ là một ngọn núi lạ. Thêm vào đó, địa danh trong thơ phần lớn là tượng trưng: nhà thơ đời Đường dùng tên đời Hán, nhà thơ Việt thế kỷ 18 dùng tên biên ải Trung Hoa. Đọc như bản đồ thật sẽ lạc.
Khó khăn thứ hai là giọng. Cùng một câu "say nằm sa trường anh chớ cười" có thể đọc thành ngạo nghễ hay thành chua xót. Đọc sai giọng thì hiểu đủ chữ vẫn sai bài.
Bộ điển tích cần biết
Bảng dưới gom những điển xuất hiện nhiều nhất, kèm nguồn gốc và ví dụ dùng. Nguồn ghi theo sách cổ đã chép chuyện đó.
| Điển | Gốc tích | Ý dùng trong thơ | Gặp ở đâu |
|---|---|---|---|
| Ném bút theo việc binh (đầu bút tòng nhung) | Ban Siêu thời Đông Hán chán việc chép thuê, ném bút than rằng đại trượng phu phải lập công nơi đất lạ (Hậu Hán thư) | Bỏ đường văn, chọn đường võ | "Xếp bút nghiên theo việc đao cung" (Chinh phụ ngâm) |
| Phong hầu | Ban Siêu lập công ở Tây Vực, được phong Định Viễn hầu | Lập công nơi biên ải để được tước hầu | "Hối giao phu tế mịch phong hầu" (Khuê oán, Vương Xương Linh) |
| Da ngựa bọc thây (mã cách khỏa thi) | Mã Viện thời Đông Hán nói làm trai nên chết nơi biên dã, lấy da ngựa bọc thây đem về chôn (Hậu Hán thư) | Sẵn sàng chết trận | "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa" (Chinh phụ ngâm) |
| Thái Sơn và lông hồng | Tư Mã Thiên viết trong thư gửi Nhậm An: cái chết có khi nặng hơn núi Thái, có khi nhẹ hơn lông hồng | Coi nhẹ sống chết khi vì nghĩa lớn | "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" (Chinh phụ ngâm) |
| Non Yên, khắc đá Yên Nhiên | Năm 89, Đậu Hiến thắng Bắc Hung Nô, khắc đá ghi công trên núi Yên Nhiên, Ban Cố soạn bài minh (Hậu Hán thư) | Nơi lập công xa nhất, biên cương tận cùng | "Non Yên dù chẳng tới miền" (Chinh phụ ngâm) |
| Phi tướng | Người Hung Nô gọi Lý Quảng là "phi tướng quân" (Sử ký) | Tướng giỏi khiến giặc sợ | Xuất tái (Vương Xương Linh) |
| Lâu Lan | Nước nhỏ ở Tây Vực; thời Hán Chiêu Đế, Phó Giới Tử chém vua Lâu Lan (Hán thư) | Kẻ thù nơi biên ải nói chung | Tòng quân hành (Vương Xương Linh) |
| Ngọc Môn quan, Dương Quan | Hai cửa ải gần Đôn Hoàng thời Hán, cửa ngõ ra Tây Vực | Ranh giới giữa quê nhà và đất lạ | Vương Chi Hoán, Vương Duy |
| Sông Dịch | Kinh Kha hát "tráng sĩ một đi không trở lại" khi sang Tần (Sử ký) | Ra đi quyết tử | Thơ tiễn biệt các đời |
| Đập áo (đảo y) | Tục phụ nữ đập vải may áo rét cuối thu gửi cho người đi xa | Nỗi nhớ của người vợ, mùa thu sắp lạnh | Tý dạ thu ca (Lý Bạch) |
| Bẻ liễu, sáo Khương | Liễu gần âm với "lưu" (ở lại); khúc "Chiết dương liễu" thổi bằng sáo người Khương | Tiễn biệt, nhớ quê | Lương Châu từ (Vương Chi Hoán) |
| Hung Nô, Hồ | Tên gọi các dân tộc du mục phương Bắc thời Hán; thơ Đường dùng lại | Kẻ địch nói chung, không chỉ một dân tộc cụ thể | Hầu hết thơ biên tái |
Chú ý: bảng chỉ ghi chuyện như sách cổ chép. Có điển như Lâu Lan hay "Long Thành" được các nhà chú giải hiểu khác nhau; khi gặp thì nên đọc chú thích của bản tuyển uy tín thay vì tự đoán.
Ba giọng chính của thơ chinh chiến
Giọng hào hùng
Dấu hiệu: động từ mạnh, lời thề, câu khẳng định. Ví dụ "chưa phá Lâu Lan quyết không về" của Vương Xương Linh, hay ca dao "xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên". Giọng này thường đi với điển Ban Siêu, Mã Viện. Đọc lên phải có lực, nhịp chắc.
Giọng bi thương
Dấu hiệu: câu hỏi không lời đáp, hình ảnh lạnh (gió, trăng, xương, mưa), điệp từ kéo dài. Ví dụ "Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai" trong Chinh phụ ngâm, "xương bên sông Vô Định vẫn là người trong mộng" của Trần Đào. Đọc chậm, để khoảng lặng sau câu hỏi.
Giọng phê phán
Dấu hiệu: đặt hai cảnh tương phản sát nhau, mượn chuyện xưa nói chuyện nay, lời của người dân thường. Ví dụ Cao Thích: lính nửa sống nửa chết mà trong trướng vẫn múa hát; Đỗ Phủ mượn "Vũ hoàng" (Hán Vũ Đế) để nói vua Đường. Đọc bình thản, để người nghe tự thấy.
Nhiều bài có hai giọng chồng lên nhau. Lương Châu từ là ví dụ rõ nhất: mặt ngoài hào hùng, bên trong bi thương. Người xưa gọi đó là "bi tráng". Đọc được hai lớp này là đã đọc thơ cổ ở mức khá.
Đọc một bài thơ cổ theo năm bước
- Đọc phiên âm Hán Việt thành tiếng để nghe vần, nhịp. Thơ tứ tuyệt vần ở chữ cuối câu 1, 2, 4; thơ thất ngôn ngắt nhịp 4/3.
- Đọc dịch nghĩa từng câu. Bản dịch nghĩa sát chữ, ít hay nhưng không thêm thắt. Đây là chỗ hiểu đúng nội dung.
- Đánh dấu điển tích và địa danh, tra bảng trên hoặc chú thích. Đừng dừng quá lâu ở địa danh; chỉ cần biết nó gợi "rất xa", "biên ải", "quê nhà" hay "kinh đô".
- Xác định giọng: hào hùng, bi thương, phê phán, hay chồng lớp. Tìm dấu hiệu trong câu cuối, vì thơ cổ thường dồn ý vào câu kết.
- Đọc hai bản dịch thơ trở lên. Mỗi dịch giả chọn một giọng. So sánh để thấy bản nào gần nguyên tác, bản nào hay mà xa ý.
Thử ngay với Xuất tái của Vương Xương Linh: đọc "Tần thời minh nguyệt Hán thời quan" thành tiếng; dịch nghĩa; tra "phi tướng Long Thành" và "Âm Sơn"; nhận ra giọng vừa than vừa trách; rồi đọc vài bản dịch. Chừng mười lăm phút là hiểu một bài mà nhiều người học thuộc nhiều năm vẫn mơ hồ.
Những lỗi hay gặp khi đọc thơ chinh chiến
- Đọc địa danh như bản đồ thật. Chinh phụ ngâm nhắc Tiêu Quan, Lũng Tây, Thiên San, không có nghĩa người chồng đánh nhau ở Trung Hoa.
- Tin giai thoại như sử. Nhiều chuyện về tác giả, hoàn cảnh sáng tác là truyền miệng. Khi một chuyện quá "đẹp" để giải thích một bài thơ, nên kiểm lại nguồn.
- Áp quan niệm hôm nay lên người xưa. Gọi Chinh phụ ngâm là "phản chiến" theo nghĩa hiện đại là đơn giản hóa. Tác phẩm có cả lời ca ngợi chí làm trai lẫn tiếng than chia ly.
- Chỉ đọc một bản dịch. Bản dịch thơ quen thuộc có khi thêm ý không có trong nguyên tác, hoặc đổi hẳn giọng.
- Bỏ qua câu cuối. Thơ tứ tuyệt dồn sức nặng vào câu kết; đọc lướt câu ấy là mất nửa bài.
Tủ sách và chỗ tìm hiểu thêm
- Tuyển tập Thơ Đường có in nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ. Đây là công cụ cơ bản; chọn bản có chú thích điển tích ở cuối mỗi bài.
- Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: tra nghĩa từng chữ Hán, rất tiện khi muốn tự dịch nghĩa.
- Chinh phụ ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn: mẫu mực về cách đối chiếu nguyên tác và bản dịch.
- Các từ điển điển cố văn học bằng tiếng Việt: tra nhanh những điển như "mã cách", "phong hầu", "Yên Nhiên".
- Sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư bản dịch tiếng Việt: đọc các truyện Lý Quảng, Ban Siêu, Mã Viện, Kinh Kha để thấy gốc của điển. Đọc truyện gốc thú vị hơn đọc chú thích nhiều.
- Các buổi ngâm thơ, sinh hoạt câu lạc bộ thơ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám hay các nhà văn hóa: nghe người ngâm giỏi sẽ hiểu "giọng" nhanh hơn đọc lý thuyết.
Một cách luyện vui: mỗi tuần chọn một bài tứ tuyệt chinh chiến, học thuộc phiên âm, tự viết một bản dịch nghĩa riêng. Sau mười bài, những điển như Ngọc Môn, Lâu Lan, non Yên sẽ thành người quen, và đọc Chinh phụ ngâm sẽ thấy sáng ra từng câu.
Câu hỏi thường gặp
Điển tích là gì?
Điển tích là câu chuyện, sự việc hay câu nói trong sách xưa được nhà thơ dẫn lại bằng vài chữ để gợi cả một ý nghĩa. Ví dụ "da ngựa bọc thây" gợi lời Mã Viện thời Đông Hán về chí chết nơi chiến trường.
Xếp bút nghiên theo việc đao cung lấy từ điển nào?
Câu này trong Chinh phụ ngâm gợi điển Ban Siêu thời Đông Hán, người ném bút than rằng đại trượng phu phải lập công nơi đất lạ, rồi theo việc binh ở Tây Vực. Câu thơ chỉ việc bỏ đường văn để đi lính.
Non Yên trong Chinh phụ ngâm là gì?
Non Yên là núi Yên Nhiên, nơi tướng Đậu Hiến nhà Đông Hán khắc đá ghi công sau khi thắng Bắc Hung Nô năm 89. Trong thơ, non Yên chỉ nơi biên cương xa xôi, chỗ người làm trai lập công.
Làm sao phân biệt giọng hào hùng và bi thương trong thơ cổ?
Giọng hào hùng thường có lời thề, động từ mạnh, câu khẳng định. Giọng bi thương thường có câu hỏi không lời đáp, hình ảnh lạnh như gió, trăng, xương trắng. Nhiều bài kết hợp cả hai, người xưa gọi là bi tráng.
Người mới nên bắt đầu đọc thơ chinh chiến từ bài nào?
Nên bắt đầu bằng các bài tứ tuyệt ngắn như Lương Châu từ của Vương Hàn và Xuất tái của Vương Xương Linh, rồi đến Binh xa hành của Đỗ Phủ. Sau đó mới đọc Chinh phụ ngâm, khi đã quen với điển tích biên tái.